TÂM ĐẠO (Chương VII)

 

MỞ RỘNG KHÁI NIỆM
Phần này sẽ dành để nói về khái niệm “Tâm” theo những góc nhìn và phương pháp tư duy khác nhau.
Phật giáo cho rằng, Tâm là để chỉ toàn bộ sinh hoạt và hiện tượng của tâm trí. Theo đó, tâm được xem như một thể riêng biệt, mà ở đó thế giới hiện tượng xuất hiện. Với góc nhìn này, Tâm là gốc của tất cả mọi hiện tượng tâm thức nơi con người.
Nhà Phật chia ra sáu loại Tâm:
1/ Nhục đoàn tâm (trái tim thịt)
2/ Tinh yếu tâm (chỉ cái tinh hoa cốt tuỷ)
3/ Kiên thật tâm (chỉ cái tuyệt đối)
4/ Tập khởi tâm
5/ Tư lượng tâm
6/ Duyên lự tâm
Vậy thì thế nào là một người có tâm?
Đó là người:
-  Có lòng xót thương.
- Có lòng ngay thẳng, thành thật.
- Có lòng cảm thông, tha thứ.
- Có lòng bao dung.
- Có tấm lòng tốt, biết an ủi, giúp đỡ.
- Có tấm lòng từ bi, bác ái.
- Có tấm lòng hỷ xả, không thù dai, không hờn oán, không ghen ghét đố kỵ.
- Có tấm lòng hy sinh vì nghĩa.
- Có tấm lòng biết sẻ chia, bố thí.
Theo Nho giáo thì Tâm là thần minh, linh giác của con người. Nho giáo xem Tâm tính ban đầu vốn tốt lành, nhưng sở dĩ con người có tâm tính độc ác, là do càng ngày càng tập nhiễm những điều xấu, mà xa dần cái tính bản thiện. Trong sách Tam tự kinh có câu: “Nhân chi sơ, tính bản thiện. Tính tương cận, tập tương viễn” (Tính thuở ban đầu của con người vốn lương thiện, luôn gần gũi với điều lành, nhưng vì tập nhiễm thói xấu, nên mới xa dần điều lương thiện).
Bởi vậy mà Nho Giáo mới đề ra phương pháp “Tồn Tâm dưỡng Tính”.  (Giữ cho cái thiện tâm luôn tồn tại, và nuôi dưỡng cái tính thiện của mình, đừng cho tập nhiễm điều xấu).
Còn đối với Lão giáo thì Tâm Tính gọi là Thiên lương, Huyền tẩn, hay Huyền quan khiếu.
Lão giáo cũng cho rằng Tâm Tính có sẵn trong mỗi người, nó hồn nhiên vô tư vô dục, lương thiện như tâm hồn của đứa trẻ con khi mới sinh ra. Vì thế cho nên Lão Tử mới so sánh cái Thiên-lương (Tâm nguyên-thuỷ) của con người như là tâm của đứa con đỏ “Xích tử chi tâm”. Nhưng sở dĩ có sự biến dạng thành hung ác, là do tập nhiễm vật dục làm thay đổi từ tốt trở nên xấu.
 “Tâm” trong đạo Công Giáo được diễn tả bằng nhiều danh từ khác nhau: Tim (heart), cõi lòng con người (the depths of one's being), tâm hồn (mind), linh hồn (soul), lương tâm (consciene).
Như vậy để chỉ “Tâm” là:
- Trung tâm hiện hữu của con người.
- Nơi thầm kín của cá nhân, lý trí hay người ngoài không dò thấu được, chỉ có Chúa và Thánh Thần mới có thể biết được.
- Nơi con người chân thật với mình nhất, để chọn lựa sự sống hay sự chết.
- Nơi gặp gỡ để sống các mối tương giao, vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa.
- Nơi Thiên Chúa đã ghi sâu các giới luật tự nhiên của Ngài.
- Nơi quyết định chọn Thiên Chúa hay không.
- Nơi có sự giận dữ và ganh tị là hậu quả của nguyên tội.
- Nơi phát xuất những ý định xấu, là nguồn gốc của mọi tội lỗi.
- Nơi Chúa Thánh Thần sẽ đổi mới, ghi khắc lề luật mới.
- Trung tâm của nhân cách luân lý.
- Nguồn phát xuất các đam mê, đam mê căn bản nhất là tình yêu do điều thiện hảo lôi cuốn.
- Nơi Thiên Chúa đã ghi sâu các giới luật tự nhiên của Ngài.
- Nơi cần thanh luyện để chiến đấu chống lại nhục dục.
- Nguyên lý thuần linh nơi con người, nhờ đó con người là hình ảnh Thiên Chúa.
- Cái thâm sâu nhất và giá trị nhất nơi con người.
- Sự sống của con người và cũng là toàn diện con người.
- Mầm sống vĩnh cửu do Thiên Chúa trực tiếp sáng tạo mà con người mang nơi mình.
- Nơi con người hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Người vang dội trong thâm tâm họ.
- Tiếng gọi con người phải yêu mến và ra lệnh phải làm lành lánh dữ.
- Nơi phán đoán các lựa chọn cụ thể bằng cách tán thành lựa chọn tốt, tố giác lựa chọn xấu.
Về mặt ngôn ngữ, chữ tâm () có rất nhiều nghĩa:
a/ Nghĩa thông thường:
+ Tim (heart): tâm tạng (quả tim), tâm thất (ngăn bên dưới trong trái tim).
+ Lòng, dạ, ruột, phần bên trong (inner).
+ Lòng, tình cảm con người (inner emotion): tâm cảm (inner feelings), tâm phục (thật lòng kính trọng vâng theo); tâm ý (lòng dạ và đầu óc); đồng tâm nhất trí (cùng một lòng, một ý).
+ Giữa (center), điểm ở giữa, quy tụ các điểm khác, thường nói về phần giữa đều gọi là tâm: viên tâm (điểm giữa vòng tròn), trọng tâm, trung tâm.
+ Tên một ngôi sao trong Nhị thập bát tú, sao Tâm, tức sao Hoả.
+ Tên một bộ chữ Hán, bộ Tâm, cũng viết là, khi đứng bên trái.
b/ Nghĩa tâm lý và đạo đức:
Ngày xưa, người ta quan niệm tâm là nguồn gốc của mọi sinh hoạt tâm lý, nên các tình trạng tư tưởng và tình cảm đều gọi là tâm: tâm tưởng (thinking); tâm tính (mood), tâm ý (idea). Đối với khoa học ngày nay, điều đó không hoàn toàn đúng nữa. Mặc dù vậy, tâm vẫn còn được coi là:
+ Tượng trưng của tình cảm, tình yêu (love).
+ Khả năng nhận thức sự vật, suy nghĩ và cảm giác: tâm trí (mind).
+ Khả năng phán đoán về thiện ác theo quy luật đạo đức: lương tâm.
+ Toàn bộ các hiện tượng tâm lý, từ cảm giác đến tình cảm, hành vi, ý chí. Tâm lý (psychic), tâm trạng (mental).
+ Phần linh thiêng nơi con người, đối lập với thân xác: tâm hồn (spirit, soul = linh hồn); tâm linh (spiritual).

Như vậy, văn hoá đông tây tuy có đôi chỗ khác biệt, nhưng đều lấy “Tâm” để diễn tả tình cảm, cũng như để chỉ cái trung tâm, cốt lõi nơi con người.

Bài đăng phổ biến từ blog này

TÂM ĐẠO (Chương III)

TÂM ĐẠO (Chương II)