TÂM ĐẠO (Chương IX )

 PHẦN CHUYỆN MINH HỌA


1. Tướng mạo thay đổi tùy theo hành động

Đời vua Hán Cảnh Đế, có một anh bán dầu nọ tên Bùi Độ nghèo khổ lang thang, được thầy tướng số cho biết sẽ chết đói vì có hai đường chỉ chạy xéo từ cằm lên mép miệng. Ngày kia Bùi Độ gặp một thiếu nữ ngồi khóc bên giếng sâu. Hỏi ra sự tình mới biết thiếu nữ mang vàng đi để chuộc tội oan của cha, chẳng may bị đánh rơi xuống giếng. Ai cũng nói dưới giếng có con trăn to. Thiếu nữ đang tuyệt vọng muốn quyên sinh. Bùi Độ thương tình, nghĩ mình trước sau cũng chết đói nên liều mạng leo xuống tìm được vàng cho thiếu nữ. Nhờ đó gia đình thiếu nữ được phục hồi danh dự và quyền thế.


     Sau một thời gian, nhà tướng số gặp lại Bùi Độ và kinh ngạc nói rằng tướng chết đói của Bùi Độ đã biến mất mà thay vào đó là tướng công khanh phú quý rực rỡ. Đúng vậy, sau khi được cứu sống thiếu nữ tên Ngọc Hà đền ơn, đem Bùi Độ về dạy học và giao ước vợ chồng rồi mới thưa với phụ thân. Cha nàng gửi gắm Bùi Độ sang một người bạn khác để nhờ tiến cử.

Thời gian xa cách Ngọc Hà, Bùi Độ đã lạc lòng với những hình bóng giai nhân khác. Trên bước đường tiến quan, Bùi Độ ghé vào thăm nhà tướng số cũ để tạ ơn, nhưng ông bảo Bùi Độ đã hiện lại tướng chết đói. Bùi Độ tức giận bỏ đi. Sau khi được làm quan, Bùi Độ đánh mất nhân cách, chỉ lục lạo, cưỡng bức các cô gái đẹp, bị triều đình hạ lệnh bắt về kinh trị tội. Bùi Độ sợ hãi trốn vào rừng rồi chết đói cạnh một mỏm đá. Ngọc Hà đau khổ tìm chồng, trông thấy bộ xương và cũng gục chết bên cạnh. 

Cái phước của Bùi Độ xuất hiện do tâm niệm liều mạng tìm vàng cứu cô gái. Phước đó quá lớn đến nỗi chuyển hẳn tướng mạo và số mệnh để cho Bùi Độ trở thành quan chức vinh hiển. Nhưng rồi, tư cách tầm thường tham dục đã phá vỡ phước cũ để cho nghiệp chết đói đủ cơ duyên xuất hiện trở lại.

Như vậy, tướng mạo tùy thuộc vào nghiệp chứ không cố định. Nếu chúng ta thường xuyên biết cứu giúp mọi người, ắt hẳn tướng mạo và số kiếp chúng ta sẽ thay đổi một cách tốt đẹp.

2. Tướng thay đổi tùy Tâm

Tào Bân là vị đại tướng nổi tiếng triều Tống, giúp Tống Thái Tổ bình định thiên hạ, có công lao chinh chiến rất lớn. Có một lần, Tào Bân gặp Trần Hi Di là một người có học vấn rất uyên bác, giỏi xem tướng thuật. Ông này xem qua tướng mạo của Tào Bân rồi nói:

- Hai bên thành xương của ông lồi lên, ấn đường rộng, mắt dài phóng ánh sáng, chắc chắn sớm trở nên giàu có, song có tướng xấu là quai hàm cao, miệng trệ, xem ra ông không được hưởng phước khi tuổi già. Cứ theo đây mà nói, mỗi khi xuất binh chinh chiến ông nên đối xử khoan hồng, gieo trồng phước đức cho lúc tuổi già.

Tào Bân nghe Trần Hi Di nói liền cúi đầu cảm tạ, ghi nhớ lời ấy.

Một lần, khi Tào Bân xuất trận, phó tướng Toại Ninh và rất nhiều tướng sĩ thuộc hạ đều chủ trương giết sạch dân trong thành để thị uy. Tào Bân biết được liền ra lệnh nghiêm cấm giết hại dân lành, cấm xâm hại phụ nữ hoặc cướp bóc tài sản của dân. Sau khi chiến sự kết thúc, ông còn cấp lương thực cho những người xa quê muốn trở về. Dân chúng không ai không cảm tạ tấm lòng nhân đức của ông.

Sau đó, Tào Bân nhận lệnh dẫn binh đánh Giang Nam. Bởi không nỡ nhìn thấy cảnh dân tình khốn khổ lầm than vì chiến cuộc nên ông cáo bệnh không đi. Các võ tướng dưới quyền ông lúc đó đều kéo đến thăm hỏi bệnh tình của ông trước khi xuất chinh. Tào Bân nói với tất cả những người đến thăm bệnh:

- Bệnh của tôi không thuốc gì chữa khỏi, nhưng chỉ cần tất cả anh em thành tâm thành ý cùng thề rằng ngày tiến công Giang Nam tuyệt đối không được tùy tiện giết hại dân lành, như thế thì bệnh của tôi sẽ tự nhiên thuyên giảm thôi.

Các tướng sĩ vốn hết sức kính trọng Tào Bân, nên họ liền cùng nhau phát lời thệ nguyện đúng như vậy. Đến ngày đánh Giang Nam, nhờ đó mà có vô số dân thường được thoát khỏi sự lạm sát. Tấm lòng từ bi của vị tướng quân họ Tào được truyền rộng khắp Giang Nam, dân chúng ai nấy đều cảm kích. Vì thế, mọi người cùng rủ nhau mang lương thực đi đón quân triều đình. Sức chống cự của phản quân vì thế rất yếu ớt. Nhờ vậy mà trận chiến này không phải tốn hao nhiều nhân mạng, hơn nữa còn bảo vệ được tài sản của nhân dân không bị tàn phá.

Sau đó ít lâu, Tào Bân có dịp tình cờ gặp lại Trần Hi Di. Ông ta nhìn tiên sinh một lúc rồi nói:

- Lạ thật! Năm trước tôi xem tướng của ông thấy quai hàm cao miệng trệ, lúc đó tôi khẳng định ông không có phước về già, nhưng hiện tại đã biến đổi, miệng mép đầy đặn xinh đẹp, ánh kim quang thù diệu nhìn thấy khắp mặt và râu tóc, nhất định sẽ được sống lâu nhiều phước lộc.

Tào Bân hỏi lại: 

- Sao gọi là kim quang?

- Đó là ánh sáng hiển hiện của phước đức, nếu người có âm đức thì mặt hiện ánh sáng màu vàng y, mắt sáng, cả khuôn mặt đều tỏa ra khí sắc tốt lành. Người như vậy không chỉ tăng tuổi thọ, con cháu nhiều đời về sau cũng đều hưởng nhờ phước đức.

Quả nhiên, về già Tào Bân sống trong cảnh an nhàn thư thái, lúc ra đi cũng hết sức nhẹ nhàng, thọ 69 tuổi, sau khi chết được truy phong tước hiệu Tể Dương quận vương. Tiên sinh có cả thảy 9 người con trai, con trưởng là Vĩ, con thứ là Tông, con thứ ba là Xán, đều là những tướng lãnh nổi tiếng; nhiều đời con cháu về sau đều vinh hiển không ai sánh.

3. Đổi vận nhờ tu phước đức

Viên LiễuTrang là một nhà tướng số danh tiếng. Nhìn chỉ tay hay cái mũi của một người nam hoặc nữ, ông có thể đoán biết trước vận mạng tương lai của họ. Một hôm có một vị đại thần dắt con đến nhờ ông xem tướng. Viên Trang coi tướng xong biết đứa bé này vài năm sau sẽ chết. Ông liền bảo cho vị quan kia hay.

Nghe nói vậy, vị quan ấy rất đau khổ. Trên đường về nhà ông đến gặp một vị sư. 

Vị tăng hỏi: 

- Có việc gì xảy ra mà trông ngài sầu não như thế? 

Vị quan đáp rằng ông vừa mới nghe nhà tướng số báo cho biết một tin chẳng lành.

Hòa Thượng liền xem tướng đứa nhỏ để tìm hiểu vận mạng của nó. Ngài nói với cha em bé: 

- Chỉ có phước đức mới cứu được mạng sống của cháu. Nhưng cơ duyên làm phước không phải dễ. Nếu ngài muốn có phước đức thì cách tốt nhất là nên phóng sinh. Tạo phước đức bằng hành động thiện không giết hại sinh vật mới có thể bảo vệ mạng sống cho con ông. 

Nghe lời Hòa Thượng, vị quan kia liền phát nguyện không bao giờ sát sanh mà lại còn phóng sanh. Ông tinh tấn làm lành như vậy được ít năm. Sau đó gặp lại cha con ông, Hòa Thượng bảo: 

- Chưa đủ! Ông cố gắng tạo thêm nhiều thiện nghiệp nữa mới có thể cứu được mạng sống của con ông!

Viên quan lại nỗ lực cứu thoát nhiều sinh vật nữa. Khi gặp dịp làm phước giúp đỡ ai, người cũng như thú vật; ông luôn luôn sẵn sàng đóng góp thời giờ lẫn tiền bạc. Nhờ vậy, viên quan đã cứu độ vô số sinh linh, và người con đến năm bị chết yểu vẫn sống và biến đổi trở thành một thanh niên khỏe mạnh.

Nhà tướng số Viên Liễu Trang biết sự việc này. Từ đó về sau, mỗi khi coi thấy người nào có vận mạng xấu, ông liền khuyên bảo họ nên cố gắng làm việc phước đức và đừng bao giờ sát sanh. Nhờ tu nhân tích đức mà nhiều người đáng lý sẽ phải chết sớm lại sống trường thọ, nhiều kẻ nghèo khó trở nên giàu sang.

4. Thoát nạn nhờ lương thiện

Vào một ngày thời tiết oi bức, mấy đứa nhỏ muốn đi ra ngoài dạo chơi, tôi cũng thuận đường đến hiệu sách tìm mua mấy cuốn hướng dẫn đan len mới xuất bản bằng tiếng Nhật.

Khi đi ngang qua hành lang, vị thầy tướng số đã gọi lại và ngỏ ý muốn xem tướng cho tôi. Thấy tôi đã lắc đầu xua tay từ chối, vị thầy tỏ vẻ rất buồn giống như có điều bí ẩn gì khó nói.

Cô con gái lớn không đành lòng liền kéo tay mẹ đến xem một chút và nói: “Mẹ cho ông này xem mệnh được không ạ? Giúp ông có ít tiền để ăn cơm được không mẹ? Nhìn ông đáng thương quá mẹ à.”

Tôi vốn là người không thích xem tướng số, cũng không có ấn tượng tốt về họ. Nhưng vì mấy đứa nhỏ quá lương thiện, tôi đã động lòng. Vậy là tôi đành để mấy đứa nhỏ kéo đến tiệm nhờ vị tiên sinh kia xem tướng cho.

Sau khi nhìn hồi lâu, xem tay của tôi rồi lại xem tay của từng đứa nhỏ, vị tiên sinh nói: “Không cần xem nữa, cũng không phải trả tiền, tất cả đều là số mệnh, con người không thể thay đổi dù chỉ một chút.”

Nhưng, bốn đứa nhỏ nhất mực muốn tôi trả tiền cho thầy tướng số này. Cuối cùng, vị tiên sinh xem tướng số cũng nhận tiền, đột nhiên hai mắt ông đỏ hoe sờ đầu mấy đứa nhỏ và khóc nói lẩm bẩm: “Ôi! Ông trời thật không có mắt, ông trời thật không có mắt!”

Mấy đứa nhỏ nói lời tạm biệt, ông đã xua tay ra hiệu đi đi mà không nói lời nào. Tinh thần của ông lộ ra trạng thái vô cùng đau khổ.

Sau đó, đi ngang qua một công viên, chúng tôi thấy một đám đông người đang tụ tập. Mấy đứa nhỏ rất thích náo nhiệt, chúng vừa nhìn thấy đã vội chạy tới. Chúng len qua đám đông để vào xem nguyên nhân của sự náo nhiệt. Một lát sau, chúng chạy lại và kéo bằng được tôi tới xem.

Thì ra, một bà mẹ đang quỳ trên mặt đất cầu xin mọi người giúp đỡ. Bà cần một khoản tiền lớn để điều trị cho con trai đang nằm tại bệnh viện.

Mấy đứa nhỏ nói với người đàn bà đang quỳ trên mặt đất: “Không cần phải quỳ đâu, mẹ của cháu đến đây rồi, mẹ nhất định sẽ giúp bà lo việc này.”

     Chúng hợp sức cùng nhau đỡ người đàn bà này đứng lên. Tôi không chỉ lấy hết tiền trong túi ra làm phúc mà còn hướng đến mọi người nói lời giúp đỡ bà mẹ đáng thương này. Sau đó, tôi cùng vị phu nhân đến bệnh viện để nộp tiền viện phí.

Sau khi mọi việc được làm tốt đẹp, mấy đứa nhỏ mới chịu buông tha cho tôi và nói: “Mẹ à, cảm ơn mẹ! Chúng con sẽ không làm phiền mẹ nữa, về nhà thôi mẹ nhỉ!”

     Sau một tháng, đàn kiến lũ lượt kéo đến nhà tôi, chúng bâu kín tường. Vì không muốn là tổn thương chúng, tôi đã mua 20 chiếc ghế đẩu để làm lối đi lại. Ngoài ra, tôi còn bỏ xuống nền một ít đường và nước coi như là khao thưởng đàn kiến vì đã hành quân đến nhà tôi làm khách.

Mấy đứa nhỏ nhìn thấy kiến kéo đến bâu khắp phòng đã vô cùng sợ hãi. Tuy nhiên chúng lại rất nghe lời tôi, không làm phiền, cũng không làm hại những con kiến này. Chúng cũng hiểu, kiến đến nhà là khách, lại càng biết đạo đãi khách.

     Lúc này là vào mùa hè, mấy đứa trẻ không phải đến trường nên chúng ở trong nhà với người giúp việc. Công việc của tôi lại đang rất bận.

Khi đang trong cuộc họp, tôi lờ mờ nghe được thông tin về một đám cháy lớn. Tôi định bụng sau khi họp xong sẽ đến hiện trường để xem tình hình. Sau cuộc họp, tôi nhờ đồng nghiệp chở đến chỗ đám cháy.

Thấy con đường quen thuộc quá, tôi nói với đồng nghiệp lái xe: “Tôi chưa vội về nhà. Tôi muốn đến hiện trường phát sinh hỏa hoạn. Sao cậu cứ chạy về hướng nhà của tôi thế.”

Đồng nghiệp trả lời rằng, chúng ta cách hiện trường đám cháy không xa, một lát nữa là đến thôi. Do quá mệt nên tôi đã ngủ thiếp đi, khi nhìn thấy hiện trường tôi mới bừng tỉnh và thốt lên: “Đây là nhà tôi!”.

Tôi không kìm được vội chạy tới tòa nhà, lao thẳng lên tấng 3 tìm các con, miệng không ngớt nói: “Con của tôi đâu rồi? Con của tôi đâu rồi?” Lúc này đội chữa cháy mới tá hỏa đi tìm, còn tôi bị sốc quá mức mà ngất đi.

Cuối cùng cũng đã tìm thấy, mấy đứa nhỏ đang ở trong tình trạng sặc khói và lịm trên mặt đất. Do chỉ bị sặc khói nên đến nửa đêm, mấy đứa nhỏ đã tỉnh lại.

Điều mọi người kinh ngạc chính là căn phòng đầy sách nhưng một đám cháy lớn như thế lại không thiêu đốt nổi.

Nhân viên cứu hộ đã ngỡ ngàng mà thốt lên: “Cái nhà này hẳn phải rất có phúc.” Đám cháy lớn đã thiêu rụi gần như tất cả tòa nhà cao tầng nhưng lại chừa lại căn phòng này.

Nhân viên phòng cháy còn nói: “Khi phun nước, tôi không nhìn thấy căn phòng này. Dường như căn phòng bị biến mất, do đó ngọn lửa lớn tầng dưới không thể thiêu đốt tới căn phòng này được.”

Đến ngày khai giảng, tôi dẫn các con đi mua sách. Chúng tôi đi ngang qua quầy xem bói của vị tiên sinh kia. Lúc nhìn thấy mấy đứa trẻ, ông đã ôm chặt lấy chúng, vô cùng kích động nói: “Sao các cháu vẫn còn sống? Sao các cháu vẫn bình an vô sự?”

Thì ra, vị thầy xem trong mệnh thấy rằng, mấy đứa nhỏ lương thiện này không thể sống qua mùa hè và chúng sẽ bị chết bởi hỏa hoạn. Do đó lúc trước mới không ngớt lời nói rằng ông trời không có mắt như thế. Lúc đó, ông đã khóc đến không muốn dọn quán nữa mà ra về.

Dù biết trước sự việc, nhưng ông không thể làm gì, giống như người bất lực. Nhưng có lẽ do bản tình lương thiện, mấy đứa nhỏ gặp đại nạn không chết.

     Con người khi còn sống, có một số sự tình ngoài ý muốn mà chúng ta không thể đoán trước được, cũng không giải thích nổi. Gặp đại nạn không chết, có lẽ vì chúng tôi đã sống theo lời Thần Phật dạy, sống thiện lương, giúp đỡ người khác và nghĩ cho người khác. Con người luôn tính toán mọi sự nhưng lại thường tính không trúng. Bởi vì chúng ta không biết rằng ông Trời đã có sự xắp đặt của riêng mình.

     Trong suốt cuộc đời, tôi đã nhận thấy rằng, con người thật sự quá nhỏ bé, không thể tự mãn mà coi mình hơn hết thảy, càng không nên quá tự tin. Bởi vì con người nhìn không thấy Thần Phật nhưng các ngài ấy lại nhìn con người rõ như lòng bàn tay.

5. Giết Lợn bị đọa vào địa ngục A Tỳ 

Truyện Pháp Cú kể rằng: 

“Lúc Thế Tôn cùng các Tỳ kheo ở tại tinh xá Trúc Lâm, cách đó không xa, có đồ tể Cunda sống bằng nghề mổ lợn. Mỗi lần giết lợn, ông ta trói thật chặt vào cột và nện nó bằng một cây chày vuông, rồi banh hàm và rót nước sôi vào họng, kế đến đổ nước sôi lên lưng, làm tuột lớp da đen và thui lớp lông cứng bằng một bó đuốc. Cuối cùng ông cắt đầu lợn bằng một thanh kiếm nhọn rồi xẻ thịt, lột da. Và Cunda đã sống bằng nghề mổ và bán thịt như thế gần hai mươi năm. 

Dù đức Ðạo Sư ở tinh xá cách đó không xa mà chẳng khi nào Cunda cúng dường Ngài, dù là một cành hoa hay một nắm cơm, cũng không làm một việc công đức nào cả. Một hôm ông mắc bệnh, và dù ông ta vẫn còn sống nhưng lửa của địa ngục A Tỳ đã bốc cháy trước mặt. Khi cực hình địa ngục giáng xuống đồ tể Cunda, ông ta bắt đầu kêu eng éc và bò bằng tay và đầu gối. Người nhà rất kinh khiếp tìm mọi cách bịt miệng ông ta, chặn các cửa và nhốt ông ở trong nhà. Suốt bảy ngày, chịu sự đau khổ, ông luôn mồm rống eng éc như lợn .

Vài tỳ kheo đi ngang qua cửa nhà ông, nghe tiếng lợn kêu eng éc ồn ào, khi về tinh xá, bạch với Đạo Sư: “Bạch Thế Tôn, trong bảy ngày qua cửa nhà đồ tể Cunda đóng kín và ông ấy vẫn tiếp tục giết lợn. Thế Tôn nghĩ xem, biết bao nhiêu con bị giết. Thật từ trước tới nay chưa thấy ai độc ác và dã man như thế!” 

Đức Đạo Sư nói: 

- Này các Tỳ kheo! Ông ta không giết lợn trong bảy ngày qua đâu. Sự trừng phạt phù hợp với việc làm ác đã xảy đến đối với ông ta. Ngay khi ông ta còn sống, cực hình của địa ngục A Tỳ đã đến. Vì cực hình này, ông ta bò tới bò lui trong nhà, kêu la eng éc như một con lợn suốt bảy ngày. Hôm nay ông ta đã chết và bị đọa vào địa ngục A Tỳ”.

6. Giết Trâu đền tội 

Trong quyển Hồi hương bút ký có một đoạn mô tả như sau: Vào đời Thanh Tuyên Tông, năm Đạo Quang ở huyện Đào Khê (Trung Quốc) có một kẻ chuyên môn mổ thịt trâu đem bán mà mọi người ai cũng biết. Đó là Phạm Đăng Sơn. Suốt đời giết hại không biết bao nhiêu con trâu vừa đem bán, vừa để ăn. Một hôm trên không bỗng nhiên mây đen tích tụ lại, trời đất tối sầm, rồi mưa gió nổi lên dữ dội, sấm chớp vang rền. Ngay lúc ấy, sét đánh trúng Phạm Đăng Sơn nhưng không chết, song mặt mày cháy lém, da thịt cuộn lại, đau đớn rên la, kêu rống lên một cách thê thảm, hai mắt đẫm lệ trợn lên như sắp lồi ra ngoài. Do lửa đốt, da thịt nứt nẻ, anh ta dùng tay cạo những chỗ thịt bị rã nát, vò lại rồi bỏ thẳng vào miệng vừa ăn vừa nói: 

- Thịt trâu ngon quá! 

Trãi qua chừng vài tháng rồi tắt thở. Những người chứng kiến cảnh ấy, ai nấy đều cảm thấy lạnh xương sống. Nên biết rằng sự báo ứng của nghiệp sát sinh hết sức là trầm trọng, mà quả báo của việc giết trâu bò lại càng trầm trọng hơn vì chúng có công với người đời. 

7. Hãy từ bỏ nghề sát sinh 

Câu chuyện này xảy ra ở Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc vào cuối thời nhà Thanh. Một người đàn ông sinh sống bằng nghề giết mổ lợn. Ông có bốn con trai và một con gái. Ba người con trai lớn theo nghề của cha kiếm tiền, cuộc sống gia đình rất khá giả. Sau khi ông chết đi ba người con trai lớn vẫn tiếp tục nghề đó. Một ngày nọ, họ mua một con lợn về chuẩn bị mổ thịt, thì họ bị sửng sốt khi nghe con lợn nói:

 - Làm ơn đừng giết tôi, đừng giết tôi! 

Họ hỏi: 

- Ngươi vừa mới nói gì? 

Con lợn nói: 

- Ta là cha của các con. Đừng giết ta. Ta được đầu thai thành lợn, bởi vì ta phạm phải tội rất lớn đó là giết rất nhiều lợn khi còn sống. Hôm nay ta được xếp đặt để gặp các con để truyền đạt một điều quan trọng: “Hãy từ bỏ nghề mổ lợn và tìm nghề khác mà làm.”

Con lợn chết sau khi nói xong. Mấy anh em buồn khóc thảm thiết và đem chôn con lợn này. Họ chia nhau tài sản của gia đình và mỗi người đi một đường. Người con trai đầu trở thành đại lý bán gạo; người con trai thứ ba mở một cửa tiệm bán quần áo. Người con trai út vẫn còn rất bé. Người con gái thì theo chồng. Người con trai thứ hai vẫn tiếp tục làm nghề giết mổ lợn bất chấp lời cảnh cáo của cha mình.

Một hôm anh ta dùng hết gia tài của mình mua một bầy lợn. Khi anh lùa bầy lợn qua một bờ đê, một cơn gió mạnh đột ngột tới làm thành bão cát bao phủ cả vùng trời. Gió rất mạnh và tràn khắp vùng làm anh ta không cách nào mở mắt ra được. Anh ta không còn chọn lựa nào khác đành phải ngồi xuống bờ đê và đợi hết gió. Cơn gió kéo dài 4 giờ đồng hồ. khi anh ta mở mắt ra, không thấy còn con lợn nào cả. Anh ta đã mất sạch hết tiền. Anh ta cảm thấy hối hận, và ngồi ở đó khóc và khóc đến khi đôi mắt bị mù.

8. Ăn trộm phải trả nợ 

Xưa có một người tên là Triệu Tam, đi ở cùng với mẹ cho nhà họ Quách. Sau khi mẹ Triệu Tam qua đời hơn một năm, vào một buổi tối nọ, Triệu Tam có một giấc mộng thấy mẹ về nói với mình: 

- Ngày mai tuyết rơi lớn, bên dưới tường nhà sẽ có một con gà chết cóng vì lạnh, chủ nhân nhất định sẽ thưởng cho con, nhưng con chớ có ăn. Ta đã từng trộm ba trăm đồng tiền của chủ nhân, Diêm vương nay phán ta chuyển thành gà để trả nợ. Ta đã đẻ đủ trứng trong đời này để trả hết số nợ, nên có thể đi được rồi.

Hôm sau, quả đúng như lời nói trong giấc mộng, có một con gà mái chết cóng dưới bức tường nhà. Chủ nhân thưởng cho Triệu Tam, nhưng Triệu Tam nhất quyết không ăn, mà khóc lóc mang gà mái đi chôn. Chủ nhân cảm thấy rất lạ, mới gặng hỏi. Không còn cách nào khác, Triệu Tam đành đem sự thật kể lại với chủ nhân.

9. Nhờ bố thí giải được tội 

Thủ Huồng tên thật Võ Hữu Hoằng , theo chuyện kể thì ông là người châu Đại Phố (tức Cù lao Phố), huyện Phước Chính, phủ Phước Long, nước Đại Nam (nay là Biên Hòa, Việt Nam). Theo Đại Nam nhất thống chí, ông có tên Võ Hữu Hoằng. Nhưng có nơi gọi là Thủ Huồng, Thủ Hoằng, Võ Thủ Hoằng.

Khoảng năm 1755, ở châu Đại Phố có một người tên là Võ Hữu Hoằng. Ông xuất thân làm thơ lại. Trong hai mươi năm làm việc trong nha môn, ông đã thu được nhiều tiền của. Sau khi vợ mất sớm lại không con, mà tiền bạc thì quá thừa thãi, Thủ Huồng xin thôi việc về nhà.

Thủ Huồng rất yêu vợ, cho nên khi nghe người mách rằng ở chợ Mãnh Ma (Quảng Yên) là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau, ông quyết đi tìm vợ. Gặp nhau, trong lúc trò chuyện, Thủ Huồng ngỏ ý muốn xuống âm phủ chơi. Ở cõi âm, ông tận mắt nhìn thấy những cực hình dành cho những kẻ phạm nhiều tội ác khi còn sống. Và ông cũng đã nhìn thấy một cái gông to, mà cai ngục cho biết là để dành cho ông vì ông phạm tội ăn cắp.

Khi trở lại cõi dương, Thủ Huồng sợ bị đọa vào địa ngục, liền đem toàn bộ tài sản dùng vào việc bố thí, xây dựng những công trình phúc lợi, đặc biệt là làm nhà để giúp dân nghèo tránh nước triều dâng ở ngã ba sông.

Sách Gia Định thành thông chí có ghi:

“Thuở ấy, dân cư còn thưa thớt, ghe đò hẹp nhỏ, hành khách thổi cơm, đun trà rất khổ, vì vậy có người phú hộ ở tổng Tân Chánh tên là Võ Thủ Hoằng kết tre lại làm bè, trên che lợp phòng ốc, sắm đủ bếp núc, gạo, củi, và đồ ăn để dưới bè cho hành khách tùy ý dùng mà không bắt phải trả tiền. Sau đó khách buôn cũng kết bè nổi bán đồ ăn nhiều đến 20, 30 chiếc, nhóm thành chợ trên sông, nên mới gọi xứ ấy là Nhà Bè. Sau này đường thủy, đường bộ lưu thông, dân cư đông đúc, người qua lại đều dùng ghe nhà nên đò dọc phải dẹp bỏ…Vì kỵ húy tên vua Hoằng Lịch (Càn Long) nhà Đại Thanh nên phải đọc trại đi là Võ Thủ Huồng. Chiếc cầu Thủ Huồng giữa Tân Vạn và chợ Đồn (Biên Hòa) tương truyền do Võ Thủ Huồng xây dựng đến nay vẫn còn”.

Sau, Thủ Huồng được vợ đưa xuống cõi âm lần nữa, và thấy cái gông ngày cũ đã nhỏ lại rất nhiều. Từ đó, ông tiếp tục làm việc thiện, việc nghĩa cho đến khi mất. Khá lâu sau, có ông vua nhà Thanh (Trung Hoa) tên là Đạo Quang (1782-1850) lúc mới lên ngôi (1820) có cho sứ sang Việt Nam hỏi lai lịch một người ở Gia Định. Số là khi mới sinh, trong lòng bàn tay vua đã có mấy chữ “Đại Nam, Gia Định, Thủ Hoằng”. Khi rõ chuyện, nhà vua có gửi cúng chùa Chúc Thọ (chùa Thủ Huồng) ở Biên Hòa một bộ tượng Phật Tam Thế bằng gỗ trầm hương. Do việc này, mà có người bảo rằng: Nhờ thành thật hối lỗi, Thủ Huồng chẳng những làm tiêu tan cái gông đang chờ ông ở cõi âm, mà còn được đi đầu thai làm vua ở Trung Hoa.

10. Nói dối phải đền tội 

Kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên có kể câu chuyện như sau: 

“Có năm vị tỳ kheo giả làm người tu hành đắc đạo. Họ đến một vùng đất lạ, cất một cái chòi cao, che phướn, lộng, rồi một người lên ngồi nghiêm trang, mắt lim dim, còn bốn người kia đi vào làng kêu gọi mọi người đến xem có một vị tiên tu hành đắc đạo, nếu ai đến lễ lạy, cúng dường sẽ được nhiều phước báu. Cứ thế mà họ thay phiên nhau đi quảng cáo để được cúng dường.

Kiếp sau đó, vào thời Đức Phật còn tại thế, có bốn người khiêng kiệu và một người bảo vệ kiệu của một vị Hoàng hậu đến nghe Phật thuyết pháp. Khi Hoàng hậu đi nghe pháp thì cởi bỏ vòng vàng, nữ trang để trong kiệu. Năm người phụ trách kiệu xe nằm ngủ, kẻ ăn trộm đến ăn cắp tất cả nữ trang của Hoàng hậu. Quân lính cho tra khảo đánh đập tàn nhẫn. Hoàng hậu đến thỉnh ý Phật về nhân duyên gì mà có chuyện như thế. Đức Phật đáp rằng: 

- Năm ông đó kiếp trước là năm thầy tu giả mạo, còn bà là một tín nữ sùng đạo, hết lòng cung kính cúng dường họ. Bây giờ họ phải làm lính khiêng kiệu cho bà để đền nợ trước!

Nghe xong, Hoàng hậu vô cùng kinh hãi, sợ mang tội với thầy nên bảo tha và không cho họ khiêng kiệu nữa. Nhưng họ khóc lóc, quì lạy, năn nỉ: 
- Xin lệnh bà rủ lòng thương xót, cho chúng con tiếp tục hầu hạ lệnh bà. Chúng con hứa từ nay sẽ cẩn thận không bao giờ dám ngủ quên như thế! 

Hoàng hậu thỉnh ý Phật thì Đức Thế Tôn trả lời:

- Nghiệp báo, họ trả nợ chưa dứt thì làm sao mà họ ra đi dễ dàng được.

11. Lở lưỡi vì nói sai sự thật 

Ngày xưa ở Trung Quốc có người tên là Vũ Quý Sang. Hắn thích bẻ cong sự thật, chế nhạo, đùa bỡn những lỗi lầm và trêu chọc người khác.

Khi Vũ Quý Sang gặp người xấu xí, hắn cười anh ta, khi gặp người đẹp trai, hắn nhạo anh ta, khi gặp người trí thức hắn nạt anh ta, khi gặp người tinh ranh hắn cố tìm lỗi lầm và chỉ trích anh ta, khi gặp người nghèo khổ hắn coi thường anh ta, khi gặp người giàu có hắn vu khống anh ta, khi gặp quan chức hắn moi móc đời tư của vị này cho mọi người biết, khi gặp một học giả, hắn loan truyền bí mật của người này, khi gặp người hoang phí tiền bạc, hắn ca tụng anh ta là người rộng rãi; khi gặp kẻ nham hiểm chuyên lừa lọc, dữ tợn, độc ác với mọi người, hắn ca tụng gã này là cao cả. Khi gặp người nào nói về giáo lý của nhà Phật, hắn nhạo báng và gọi vị này là Sư; khi gặp người nào nói về Lão Giáo và tu đức hạnh, hắn cười và gọi anh ta là đạo đức giả. Khi thấy ai nói lời tử tế hắn phê bình “Chỉ được lời nói hay”. Khi gặp người làm việc thiện, hắn chỉ trích: “Thật là kỳ cục, tại sao anh làm việc tốt này mà không làm việc tốt kia?”. Đi tới đâu hắn cũng bình luận và nói trái sự thật.

Về sau Vũ Quý Sang bất ngờ bị lở lưỡi. Hắn luôn phải đâm vào lưỡi, để máu chảy đầy miệng, làm như vậy mới bớt đau đớn. Hằng năm hắn bị đau từ năm đến bảy lần. Hắn quằn quại rên siết cực độ khi muốn nói. Cuối cùng hắn chết vì lưỡi bị teo. Đó là nghiệp báo do nói sai sự thật. 

12. Lời dối trá tạo ra vận mệnh 

Ở phủ Hà Giang có người tên là Phùng Thụ Nam, thông minh và viết văn hay. Nhưng anh ta đã lưu lạc ở kinh thành suốt hơn 10 năm trường mà vẫn không thành công. Mỗi khi gặp được cơ duyên thì cuối cùng luôn luôn bị tan vỡ. Khi anh ta nhờ người khác giúp, thì ngoài mặt họ bằng lòng nhưng thực tế là không hề quan tâm gì đến anh ta cả. Cuộc sống của anh ta rất khó khăn, trong lòng vô cùng thất vọng và buồn rầu. Có một lần, anh ta vào miếu khẩn cầu Thần linh gợi ý và hướng dẫn cho vận mệnh của mình.

Đêm đó, anh ta mơ thấy một vị Thần nói với mình: "Anh chớ oán giận đường đời gian khổ. Thực ra, vận mệnh cả đời anh đều là tự anh tạo thành cả, oán hận có ích gì? Kiếp trước anh thích dùng lời dối trá để giành được tiếng thơm là một vị trưởng lão trung hậu. Thấy người khác gặp việc khó khăn, anh biết rõ việc đó không thể thành công, nhưng lại cực lực xúi bẩy người khác làm, khiến người ta cảm ơn anh đã tán thành và gợi ý cho họ. Thấy kẻ ác phạm pháp, biết rõ hành vi tội lỗi của người đó là không thể tha thứ được, anh lại nhiều lần biện bạch cho họ, làm cho người khác cảm kích anh. Anh làm như thế, khiến bao nhiêu những lời cảm ơn tốt đẹp đều dành cả cho anh, còn bao nhiêu oán thù phẫn hận toàn quy kết hết cho người khác. Tâm anh hiểm ác như thế, còn cần phải chỉ ra hay sao? Bởi vậy có thể thấy, người khác đối với anh có vẻ như thân thiết, thực ra là xa cách, tưởng như quan tâm, thực ra là lạnh nhạt thờ ơ, đó cũng là lẽ tất nhiên. Anh tự ngẫm lại xem, như thế có xứng đáng hay không? Đối với một con người, nếu người đó vô tình phạm vài lỗi lầm nào đó, thì có thể dùng một việc thiện nào khác để bồi thường lại. Nhưng nếu một người rắp tâm làm điều sai trái, đó chính là vi phạm đạo đức, không thể tha thứ được. Nếu anh cố gắng làm việc tốt mới có thể được may mắn mà thôi!"

Phùng Thụ Nam nghe xong vô cùng hối hận, sau đó không lâu thì bệnh chết. 

13. Không nên coi thường nói đùa 

Vào thời Đông Chu liệt quốc, Tống Mẫn Công có người tướng tên là Nam Cung Trường Vạn. Một hôm đi đánh nước Lỗ, Nam Cung sa cơ thất thế bị giặc bắt. Cũng chính lúc ấy, nước Tống bị thiên tai, Lỗ Trang Công không nghĩ đến thù xưa, còn sai người sang cứu giúp. Tông Mẫn công thấy thế cho sứ giả đến tạ ơn và xin tha cho Nam Cung Trường Vạn. Nam Cung được thả về nước, Tống Mẫn Công ra nói đùa: 

- Trước kia ta rất coi trọng ngươi, bây giờ đã là tù nhân thì ta không còn trọng nữa đâu! 

Thấy Nam Cung ngây ra, mặt đỏ tía tai, hết sức hổ thẹn, Đại phu Cừu Mục nói với Tống Mẫn Công: 

- Vương công chớ nên coi thường sự đùa giỡn mà sinh ra lòng khinh nhờn hay dẫn đến sự phản nghịch! 

Tống Mẫn Công trả lời: 

- Ta với Nam Cung Trường Vạn rất thân thiết, khanh chớ có sợ. 
Một hôm Tống Mẫn Công đánh cờ thắng Nam Cung Trường Vạn nên đắc ý nói đùa: 

- Người là tên tù chẳng làm được việc gì, làm sao đánh thắng được ta! 

Nam Cung Trường Vạn tức giận đứng lên nói: 

- Kẻ tù này tuy đánh cờ không thắng được vua, nhưng có thể giết vua! 

Nói xong, lấy bàn cờ đập vỡ đầu Tống Mẫn Công chết ngay tại chỗ, rồi làm loạn.

Sự nói đùa dẫn đến nghiệp báo như thế. 

14. Nói ác khẩu bị đọa làm Khỉ 

 Ngày xưa trong thành Xá Vệ có một người nhà rất giàu, tên gọi là Sư Chất, đã hơn bốn mươi tuổi rồi mà chưa có con. Hai vợ chồng rất lo lắng, đến nhà Bà La Môn xin bốc một quẻ bói xem sau này có sinh được đứa con trai hay con gái nào không? Nhưng họ vô cùng thất vọng nghe thầy bói trả lời rằng suốt đời họ sẽ không có con. Sư  Chất nghe thế không chịu tin, lại đi tìm một ông thầy tướng số khác, cao tay ấn hơn, nhiều kinh nghiệm hơn xin bốc quẻ. Lạ thay, vị thầy tướng này vốn được mọi người tôn kính và khen ngợi là bói linh như thần, lại cũng làm cho Sư Chất thất vọng.

Sư Chất đi về mà lòng phiền muộn, bỗng sực nhớ đến bậc đại thánh Thích Ca Mâu Ni, tự  nghĩ: Đức Phật là giáo chủ của trời và người, là bậc Nhất thiết trí, không có gì là Ngài không biết, không có gì là Ngài không hiểu, tại sao ta lại không đến gặp Ngài xin chỉ giáo?

Nghĩ đến đây ông bèn nhắm hướng Kỳ Viên tinh xá mà đi. Cung kính đảnh lễ Đức Phật xong, ông chắp tay bạch: 

- Bạch Đức Thế Tôn đại bi, xin Ngài thương xót chúng sinh ngu si mà chỉ giáo: con có chút ưu tư, năm nay đã hơn 40 mà chưa có đứa con trai nối dõi, đó là do nhân duyên gì, cúi xin Đức Phật khai thị.

Đức Phật trả lời: 

- Không lâu nữa ông sẽ có một đứa con trai, vừa có phúc lại vừa có đức, chỉ có điều là khi nó vừa lớn nó sẽ xin xuất gia.

Nghe tin này Sư  Chất rất đỗi vui mừng, thành tâm lễ Phật, rồi thỉnh cầu: “Cầu xin Thế Tôn và chư tăng cho phép chúng con được cúng dường vào trưa mai, để chúng con được kết thêm thiện duyên và trồng chủng tử vào ruộng phước của Như Lai”.

Đức Phật nhận lời rồi, Sư Chất hoan hỉ quay về chuẩn bị đàn trai. Hôm sau ông dẫn đầu gia nhân, chân thành cúng dường những món ăn thức uống ngon lành đẹp mắt nhất.

Đức Phật nhận cúng dường xong, thuyết một thời pháp rồi dẫn đầu tăng chúng quay về tinh xá. Đi được nửa đường, Đức Phật và tăng chúng ngồi dưới một gốc cây bên bờ sông nghỉ ngơi. Bỗng từ trên cây, một con khỉ nhảy xuống xin mượn bình bát của Đức Phật. Nó ôm bình bát chạy đi thật xa rồi quay về, trong bình bát chứa đầy mật ngọt. Nó dùng hai tay kính cẩn dâng bình bát lên Đức Phật, Ngài nhận lấy và chia cho chư tăng dùng, để con khỉ được nhiều phúc đức. Con khỉ thấy thế mừng rỡ nhảy nhót.

Không lâu sau nó đến ngày tận số, đầu thai làm người, sinh vào nhà của Sư  Chất. Lúc nó sinh ra, trong nhà phàm có vật dụng gì có thể chứa đựng thức ăn, thì vật dụng ấy bỗng đầy ắp mật và đường. Vợ chồng Sư Chất thấy điều quái dị, bèn do nhân duyên này đặt tên con là Mật Thắng.

Thời gian vùn vụt trôi mau như tên bắn, hơn mười năm trôi qua như trong nháy mắt, Mật Thắng nay đã lớn khôn. Chú bé chán ngán chuyện thế tục, xin phép cha mẹ cho mình được xuất gia, cha mẹ hết sức vui mừng mà trả lời: 

- Lúc con chưa ra đời, Đức Phật đã biết sẽ có ngày hôm nay. Bây giờ con muốn xuất gia, cha mẹ rất hoan hỉ. Không bao giờ cha mẹ ngăn chặn con một cách vô lý.

Được cha mẹ hoan hỉ cho phép rồi, Mật Thắng đến Kỳ Viên tinh xá xin xuất gia với Đức Phật. Nhờ có tiền duyên, Mật Thắng chứng quả rất mau.

Một hôm, thầy đang trên đường đi độ hóa với các bạn đồng tu, cảm thấy vừa nóng vừa khát lạ thường, ai nấy đều ao ước có một cái gì uống. Tỳ kheo Mật Thắng bèn cầm bát tung lên trời rồi sau đó dùng hai tay tiếp lấy bát trở về. Bấy giờ trong bát đựng đầy mật ngọt, Mật Thắng bèn chia cho chúng tăng giải khát.Về tới tinh xá, một vị tỳ kheo đi tìm Đức Phật xin thỉnh giáo: 

- Trong quá khứ tỳ kheo Mật Thắng đã tu được phúc đức gì mà bây giờ bất cứ  lúc nào, ở đâu cũng có thể có đường và mật?

Đức Phật trả lời: 

- Các ông có nhớ có một lần lâu lắm rồi, có một con khỉ đem mật ngọt đến cúng dường Như Lai và chúng tăng không? Nhờ bố thí với thiện tâm, chết rồi nó được sinh ra làm người và nhờ nó chân thành cúng mật ngọt cho Phật nên kiếp này nó có thể được mật bất cứ  lúc nào và ở đâu. 

Đức Phật nói xong, vị tỳ kheo nọ hỏi tiếp: 

- Bạch Thế Tôn! Thế thì tiền kiếp Mật Thắng do nhân duyên gì mà bị đọa xuống làm khỉ?

Lúc ấy xung quanh Đức Phật có rất nhiều đệ tử vân tập, ngài nhìn họ một lúc rồi đáp: 

- Thầy ấy bị đọa xuống làm khỉ là do một nhân duyên xẩy ra cách đây 500 kiếp trước, thời Ca Diếp Như Lai còn tại thế. Lúc đó có một vị tỳ kheo trẻ tuổi, tình cờ thấy một vị tỳ kheo khác đang băng qua một con suối nhỏ, vị trẻ tuổi bèn cười chế nhạo, bảo là dáng điệu của vị tỳ kheo kia giống hệt như con khỉ. Vị tỳ kheo trẻ tuổi đã phạm tội ác khẩu nên bị đọa xuống làm khỉ, nhưng sau đó thầy ấy biết lỗi lầm của mình, đến xin sám hối với vị tỳ kheo mà mình đã chế nhạo. Nhờ thắng duyên ấy mà kiếp này mới được gặp Phật và được Phật độ, chứng quả A La Hán một cách mau chóng.

Nghe đức Phật giảng xong, các vị Tỳ kheo đều nhận ra rằng một câu nói ác cũng có thể chiêu cảm nghiệp khổ, vì thế không còn ai dám ác khẩu, ngay cả đến một câu nói đùa cũng không dám nói. 

15. Nói lời bịa đặt gây nghiệp ác 

Ngày xưa có một ông trưởng giả rất giàu có, tiền muôn bạc triệu, tài sản dùng suốt đời không hết, lại có người vợ vừa xinh đẹp vừa hiền đức, nên đã hạnh phúc lại càng hạnh phúc hơn. Nhưng niềm vui của ông ngắn ngủi. Ông lập gia đình một thời gian lâu mới sinh được một đứa con trai, ngày đứa bé ra đời ông vui mừng khôn kể xiết. Nhưng bất hạnh thay, đứa con ông chỉ mới khóc oe oe chào đời đã vương bệnh nặng. Theo lời thầy thuốc chẩn bệnh thì đó là những mụn nhọt độc hại mọc trên da đứa bé khiến nó khóc cả ngày, thế nhưng danh y nào mời đến cũng đều lắc đầu chịu thua. Tội nghiệp đứa bé, rất nhiều thầy thuốc đã bó tay rồi, mà nó vẫn cứ đêm ngày khóc la vì đau đớn, cuộc sống thật là khổ sở.

Tiếng khóc gào rên rỉ của nó làm náo động tới bà con làng xóm, nên người ta đặt tên cho nó là thằng “Khóc Gào”. Gần nhà cậu có một ông hàng xóm già, nghe tiếng rên la đau đớn của Khóc Gào, trong lòng thấy bất nhẫn, bèn tìm đến nhà cậu thăm hỏi và nói với cậu rằng: 

- Tôi nghe rất nhiều người về khen ngợi tán thán rằng tại Tinh xá Kỳ Viên có một vị Đại Y Vương, bệnh trên thân hoặc bệnh trong tâm của chúng ta Ngài đều có thể chữa trị được hết. Ngài có phương tiện thần thông nhiệm mầu, bệnh của cậu có trầm trọng đến đâu cũng sẽ tức khắc lành, cậu nên mau mau tìm đến Ngài cầu xin chữa bệnh. 

“Khóc Gào” nghe nói thế, vui mừng vô kể, vội mang tấm thân bệnh hoạn tìm đến Tịnh xá Kỳ Viên xin được gặp đức Phật.

Khi Khóc Gào nhìn thấy 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp trên thân uy nghi sáng chói của Phật, cậu hân hoan tán thán ngay. Những đau đớn khổ não của cậu giảm thiểu đi rất nhiều, lập tức gieo cả năm vóc xuống đất lễ bái đức Phật.

Đức Phật từ bi chưa từng bỏ rơi bất cứ chúng sinh bệnh khổ nào, nên khi thấy Khóc Gào tới, Ngài rất hoan hỉ, bèn tuyên thuyết cho cậu những pháp môn thù thắng có năng lực diệt trừ tất cả mọi khổ não. Khóc Gào nghe Đức Phật thuyết pháp xong bèn sám hối tội lỗi. Lúc ấy nhọt độc đã hành hạ cậu trên mười năm qua lập tức tan biến, bệnh khổ của cậu hoàn toàn được tiêu trừ, nên tâm cậu sinh khởi niềm cung kính hoan hỉ chân thành, cậu bèn cầu xin đức Phật cho phép cậu được xuất gia làm tỳ kheo. Cậu tu hành tinh tiến, chẳng bao lâu đắc quả A la hán.

Các vị tỳ-kheo khác thấy tình cảnh của Khóc Gào như thế, thấy đó là điều rất hy hữu, bèn thỉnh Thế Tôn nói về nhân duyên khiến cho cậu phải chịu quả báo lúc trước. Đức Phật giảng cho các đệ tử nghe rằng: 

- Vô lượng kiếp về trước, ở thành Ba La Nại có hai vị phú ông nọ. Bình thường hai người đã không ưa nhau và đố kỵ nhau, nên một trong hai người đem rất nhiều vàng bạc châu báu lên dâng tặng nhà vua. Khi nhà vua nhận những vật cống hiến của ông này rồi thì rất quý trọng ông. Vì thế khi ông này gièm siểm ông kia trước mặt nhà vua rằng “người ấy vô cùng hiểm ác, thường dùng mưu độc ám hại tôi, xin Đại vương hãy nghiêm trị người ác để bảo vệ dân lành”, thì nhà vua vốn đã nhận vật cống hiến nên không còn sáng suốt nhận định, nhất nhất tin lời ông này và ra lệnh bắt giam, không đếm xỉa tới những lời biện hộ của người kia, còn đem ra tra tấn tàn khốc. Người này phải chịu tất cả những hình phạt đau đớn nhất, thương tích đầy thân như vẩy cá, phải nhờ gia đình xuất tiền chuộc tội mới được thả về nhà. Về tới nhà ông suy nghĩ không ngừng, thấy rằng con người vì có thân cho nên mới có khổ, mới bị lắm tai nhiều họa. Mình và người kia không hề có oán thù chi mà họ lại có thể hại mình đến mức thân tàn ma dại như thế này. Không lâu sau, ông bỏ gia đình vào núi tu hành và thành Bích Chi Phật. Vị Bích Chi Phật phát tâm đại từ bi, sợ rằng người kia kiếp sau sẽ chịu quả báo đau khổ nên tới nhà người ấy thị hiện đủ loại thần thông, khiến người kia thấy những biến hóa bất khả tư nghì như thế, sinh tâm kính ngưỡng, lập tức thỉnh Bích Chi Phật lên tòa ngồi và chuẩn bị đủ loại thực phẩm đặc biệt để cúng dường và sám hối tội cũ của mình đối với Ngài.

Đức Phật nói đến đây, ngừng một lúc rồi nói tiếp: 

- Các ông phải biết, người sàm tấu với vua chính là tỳ kheo Khóc Gào đã chịu khổ trong kiếp này. Sau, nhờ ân huệ của Bích Chi Phật, sám hối tội lỗi cũ, và nhờ công đức thành kính quy y Tam Bảo nên ngày nay được Như Lai cứu độ, mau đắc quả thánh. Đừng nghĩ rằng những lời sàm tấu nói ra mà không ai biết. Nghiệp tội không trốn được, dẫu trong đường tơ kẽ tóc. Nhưng đã phạm tội như thế rồi mà biết sám hối thì có thể được cứu độ.

16. Rắn độc 

Trong Chư kinh yếu tập có ghi một chuyện như sau: 

“Luận Đại Trang nghiêm ghi: “Ta từng nghe, có lần Đức Phật và A Nan đi qua một cách đồng hoang ở nước Xá Vệ. Thấy bên bờ ruộng có một khối vàng, Đức Phật bảo A Nan: “Đó là rắn độc”. A Nan bạch Phật: 

- Bạch Đức Thế Tôn! Đúng là rắn độc! 

Bấy giờ có một người đang cày ruộng, nghe Đức Phật và A Nan nói có rắn độc, liền nghĩ: “Ta đến xem thế nào mà sa môn nói là rắn độc”. Ông ta liền đến xem thì thấy một khối vàng ròng, liền nghĩ: “Sa môn nói rắn độc, nhưng đây chính là vàng ròng”. Vì lòng tham, ông liền gom lấy tất cả số vàng kia mang về nhà. Người này trước kia rất nghèo, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nhưng từ khi nhặt được vàng thì trở nên giàu có, ăn mặc dư giả.

Vua và các quan rất kinh ngạc về sự giàu có của ông, bèn đến tra xét và bắt giam vào ngục. Cho dù ông ta giao nộp tất cả số vàng lấy được lúc trước, nhưng vẫn không khỏi tội. Khi sắp bị xử chém, ông ta thốt lên: 

- Rắn độc, A Nan! Rắn độc, Thế Tôn! 

Người đứng bên cạnh nghe nói như thế, liền tâu lên vua. Vua liền cho gọi ông ta đến hỏi: 

- Tại sao ngươi nói: Rắn độc, A Nan! Rắn độc, Thế Tôn? 
Ông ta tâu: 

- Ngày trước, thần đang cày ruộng thì nghe Đức Phật và A Nan gọi vàng là rắn độc, nay thần mới hiểu. 

Vua nghe nói thế liền thả cho ông ta về.

17. Phải trả nghiệp do tham lam 

Trong một lần Đức Phật đang thuyết pháp, có một ông già bần cùng mà thọ đến hơn trăm tuổi. Tướng mạo ông rất tốt, lông mày dài đẹp, hai lỗ tai rộng lớn, răng trắng và đều đặn, hai tay dài quá gối. Rõ ràng dung mạo của người có phước tướng nhưng chịu phải cảnh nghèo khổ, quần áo không đủ để che thân, rách nát lõa lồ, lại thường bị cảnh đói khát, đi vừa thở một cách mỏi mệt. Đã trải qua mười năm, ông nghe có Phật tại thế, trong lòng rất vui mừng, ngày đêm luôn luôn phát nguyện được gặp Phật. 

Ông chống gậy lần hồi tìm đến, cầu mong được yết kiến Ngài. Chẳng may vừa đến ngõ Tịnh Xá, ông lại gặp phải các vị Phạm Thiên, Đế Thích chặn lại không cho vào. Uất ức, ông già mới kêu than. Ở trong, Phật đã biết việc gì đang xảy ra giữa ông già và Phạm Thiên Đế Thích ở ngoài ngõ tịnh xá, Phật mới quay sang bảo A Nan hãy ra cho ông ấy vào.

Bấy giờ ông già lòm còm đi vào, vừa trông thấy Phật, ông rưng rưng hai hàng nước mắt, vừa mừng vừa khóc, cúi đầu sụp lạy đức Phật, rồi quỳ thẳng, chấp tay sụt sùi kính bạch: 

- Con sinh ra đời bất hạnh, chịu cảnh bần cùng khốn khổ, đói khát lạnh lẽo. Cầu chết không được, sống thì không biết nhờ cậy ai. Con nghe Thế Tôn là một bậc nhân từ yêu thương che chở khắp tất cả. Muôn vật đều được nhờ ân đức của Thế Tôn. Tâm con vui sướng, đêm ngày phát nguyện, mong được một phen chiêm ngưỡng tôn nhan từ mười năm qua, nay mới được kết quả như nguyện.

Phật dạy: 

- Phàm làm người ở cõi đời, sinh tử đều do nhân duyên. Do nhiều nhân duyên tạo ra gốc rễ tội lỗi. Ta sẽ nói cho ông rõ nguồn gốc của tội lỗi mà ngày nay ông đã gánh chịu: Đời trước ông sinh vào nhà Minh Huệ Vương là một ông Vua cai trị một đại cường quốc. Khi đó ông là Thái tử Kiêu Quí. Trên được Phụ Vương và Mẫu Hậu quí trọng, dưới được thần dân kính phụng. Vì thế nên ông hết sức kiêu căng, tự cao, tự đại, tâm ý buông lung, khinh ngạo mọi người, xem thường tất cả. Giàu có cự phú, tài sản muôn ức, đều là chiếm đoạt của dân. Trăm họ nghèo cùng bởi vì thuế khóa thu hết. 

Ông chỉ biết gom góp, chứ không biết bố thí. Bấy giờ có một vị Sa môn tên là Tịnh Chí từ xứ xa đi đến. Vì thiếu một cái pháp y, nên tìm đến ông, mong ông bố thí một cái mà thôi, chứ không mong cầu gì nhiều. Nhưng ông tuyệt nhiên không cho, lại còn đối xử một cách quá tệ ác, đã không cho pháp y, lại cũng không cho ăn. Ông bắt vị Sa môn vô tội ngồi mãi trước nhà, muốn đi ông vẫn không cho. Qua bảy ngày đêm không thí cho một hớp nước. Thân thể đã ngất xỉu, hơi thở thoi thóp, tánh mạng sắp nguy kịch. Coi đó như một trò vui, cho tập trung nhiều người đến xem, ông lấy làm vui thích lắm! Lúc ấy có vị cận thần khuyên can ông rằng: “Thái tử chớ nên làm như vậy. Đây là một Sa môn hiền từ, khiêm tốn, bên trong mang cả tinh thần đạo đức. Sự lạnh lẽo bên ngoài, đối với con người ấy không có gì đáng gọi là lạnh lẽo, và sự đói khát cũng không đáng là đói khát. Sở dĩ đến đây xin là muốn gây phước đức cho kẻ khác thế thôi. Thái tử đã không bố thí cho thì thôi, đừng nên gây cùng bức cho người ta. Tốt hơn là Thái tử trả tự do cho vị Sa môn này đi. Đừng nên gây thêm điều gì tội lỗi!”. Thái tử đáp rằng: “Đây là người gì mà giả xưng là đạo đức. Ta cho chịu khốn khổ thử chơi, chứ ai để cho chết làm gì? Khanh đừng lo. Thôi khanh thả cho ông đi.” Nói xong liền cho thả vị Sa môn đi ra khỏi thành.

Vị Sa môn đi cách thành khoảng mười dặm, lại gặp phải bọn giặc cướp bị đói lâu ngày muốn bắt vị Sa môn giết ăn thịt. Tình cờ có Thái tử đi đến, thấy sự kiện như thế, tự nhủ rằng: “Ta đã không cho cơm áo vị Sa môn ấy thì thôi, chớ đâu lại nỡ để cho bọn giặc đói giết hại! Ta phải cứu người.” Bọn giặc đói thấy Thái tử can thiệp, nên cả bọn đều sụp lạy xin tha tội và thả vị Sa môn đi.

Vị Sa môn lúc đó nay là Bồ Tát Di Lặc đây, Thái tử Kiêu Quí lúc đó, nay là ông đây. Sở dĩ nay ông chịu phải tội bần cùng khốn khổ là do đời trước tham lam bỏn xẻn. Lý do nay ông được trường thọ là bởi cứu mạng sống vị Sa môn. Tội phước báo ứng như bóng theo hình! Ông già bạch Phật: “Việc quá khứ đã rõ ràng như vậy. Con xin nguyện được giũ sạch từ đây mà nguyện đem mạng sống thừa này được làm Sa môn, về sau đời đời được hầu bên Phật.

18. Oan oan tương báo 

Thuở xưa vào thời chánh pháp của Đức Phật Thích Ca, có một vị trưởng giả giàu có. Vị này có hai người vợ, người vợ lớn không con, người vợ nhỏ sinh được một đứa con trai khôi ngô tuấn tú, cả gia đình nhờ thế mà vui vẻ.

Khi ấy người vợ lớn sinh lòng oán hận, đố kỵ, luôn tìm cách để hại đứa bé con người vợ nhỏ, nhưng bên ngoài bà tỏ ra hết lòng thương yêu, chiều chuộng.

Một hôm người vợ nhỏ đi vắng, người vợ lớn lén lấy cái kim ghim vào đỉnh đầu đứa bé. Đứa bé từ ấy phát bệnh la khóc suốt ngày, bỏ ăn, bỏ uống, thân hình tiều tụy, qua bảy hôm thì chết. Trong nhà ai cũng sầu khổ. Người vợ lớn cũng tỏ ra đau đớn, tiếc thương. Còn người vợ nhỏ thì vật mình xuống đất, khóc than thảm thiết suốt cả ngày đêm. Nhưng cả nhà chẳng ai biết được vì sao đứa bé ấy chết. Về sau bà vợ nhỏ biết được do lòng ganh tị của người vợ lớn  và chính bà ấy giết. Bà vợ nhỏ lập tâm báo thù. Bà đến chùa hỏi các thầy tỳ kheo: 

- Bạch đại đức, muốn toại nguyện lòng mong cầu, phải làm công đức gì? 

Các thầy tỳ kheo đáp: 

- Muốn toại nguyện lòng mong cầu thì phải thọ trì bát quan trai giới, điều cầu xin sẽ được như ý!

Nghe xong, bà xin thọ bát quan trai giới. Sau đó bảy ngày bà chết đầu thai làm con gái bà vợ lớn, thân tướng đẹp đẽ. Bà vợ lớn thương yêu, quí trọng hơn vàng, nhưng oan nghiệt thay, đứa bé ấy chỉ sống được một năm rồi chết khiến cho người mẹ khổ sở đau đớn khôn cùng, khóc lóc thảm thương, bỏ ăn quên ngủ. Oan oan tương báo như thế đến bảy lần, bà vợ lớn đoán biết đây là sự báo oán của  người vợ nhỏ.

Cho đến lần cuối cùng, bà vợ lớn sinh được một bé gái lại càng đẹp đẽ, thân thể đoan trang hơn mấy lần trước, nhưng lần này đứa bé sống được 14 tuổi, sắp có gia đình. Một hôm đang đêm nàng bước ra khỏi cửa, liền ngã lăn ra chết. Bà mẹ khóc lóc kêu gào la hét suốt ngày, lòng thương con cùng cực, khiến bà phát cuồng, không còn biết gì nữa. Bà để xác con giữa nhà, chẳng chịu liệm càng nhìn xác con càng thấy đẹp lạ thường.

Một buổi sáng nọ, các thầy tỳ kheo thiền định, dùng từ tâm quán khắp tâm chúng sinh, thấy người đàn bà ấy bị một chuỗi oan nghiệt nối dài và nay chính là lúc nhờ sự đau khổ cùng tột có thể làm tâm bà bừng sáng. Sau khi dùng từ tâm quán sát, thầy tỳ kheo liền khoác y ôm bát, đến nhà bà vợ lớn khất thực. Đến nơi trước nhà vắng vẻ, bên trong nghe tiếng khóc than quằn quại, thầy rung tích trượng, hồi lâu có kẻ đầy tớ mang cơm ra cúng: 

- Bạch Ngài, bà chủ con bận việc không thể ra, xin Ngài từ bi nạp thọ! 

Thầy sa môn im lặng, không mở bát ra mà nói: 

- Ta muốn gặp thí chủ!

Người đầy tớ trở vào thưa cùng bà vợ lớn rằng thầy sa môn nuốn gặp bà. Bà chủ nói: 

- Ta có chuyện buồn khổ, chỉ muốn chết thôi, ta không muốn gặp ai cả, mày hãy mang cơm ra cúng dường thầy sa môn ấy và xin Ngài hãy đi đi. 

Nhưng khi người giúp việc mang cơm ra, Ngài cũng không nhận và nói như trước. Bà vợ lớn tự nghĩ: “Ta đang lúc khổ sở mà vị sa môn này chẳng hiểu được tâm ta, sai ngưởi đem cúng dường mà chẳng nhận, quyết muốn gặp ta, không biết Ngài muốn gì?”  Khi bà bước ra, thầy sa môn vừa trông thấy liền hỏi: 

- Này thí chủ, vì sao bà có vẻ sầu khổ, đầu tốc rối bù, mặt mày hốc hác tiều tụy đến thế? 

- Bạch Ngài, từ ngày tôi có gia đình đến nay, sinh bảy đứa con gái đứa nào cũng đẹp đẽ dễ thương, nhưng khi đến một hoặc hai ba tuổi thì chết, duy chỉ có đứa con này đến 14 tuổi, đêm hôm vừa bước ra khỏi nhà liền té xuống đất chết ngay. Tôi quá khổ sở, chỉ có muốn chết nữa mà thôi! 

Nói xong bà khóc nức nở. Thầy sa môn bảo: 

- Hãy rửa mặt, chải đầu rồi ta sẽ nói cho bà nghe! 

Nhưng bà ta vẫn khóc, thầy sa môn nói: 

- Này bà, người vợ nhỏ của ông chủ nhà này vì sao chết?

Bà vợ lớn nghe nói trong lòng bối rối sợ hãi, tự nghĩ sao vị sa môn này lại biết được việc nhà ta?

Thầy sa môn nói: 

- Người vợ nhỏ của nhà này sinh được một đứa con trai, vì sao đưa con ấy lại chết đi? 

Bà vợ lớn nghe nói trong lòng càng sợ hãi, run rẩy chẳng nói nên lời. 

- Này bà, do bà giết đứa bé ấy, nên người mẹ của nó đau khổ rồi chết theo, vì oan oan tương báo, người mẹ của đứa bé quyết báo thù, nên bảy lần sinh làm con của bà rồi lại chết, để bà phải đau khổ mà chết theo như bà đã gây ra cho người vợ nhỏ. Giờ đây đứa con bà vừa mới chết, bà hãy xa ra thì sẽ biết đứa con ấy thể nào?

Nghe vị sa môn nói, bà quay lại thì toàn thân đứa con ấy tan rã, hôi thối vô cùng. Trong lòng cảm thấy hổ thẹn khủng kiếp, bà cúi đầu đảnh lễ vị sa môn cầu xin cứu độ.

- Ngày mai bà hãy đến chùa ta sẽ làm lễ qui y cho – Thầy sa môn nói. 

Ngay khi ấy, xác đứa con gái liền biến thành rắn độc, biết được bà vợ lớn sẽ đi thọ giới, nên rắn nằm ngang chặn giữa đường. Thầy sa môn nói với rắn: 

- Oan nghiệt đã trải qua mấy đời. Người vợ lớn chỉ giết có một người con của nhà ngươi, tại sao nhà ngươi lại làm khổ người ta đến bảy lần. Tội nhà ngươi rất lớn, hôm nay lại muốn cản đường không cho người ta đi quy y tam bảo nữa, tội này đời đời sẽ đọa vào địa ngục, hiện tại nhà ngươi chỉ là thân rắn đâu được thân người !

Rắn nghe nói, liền nhớ lại kiếp trước, đau đớn trong lòng, vặn mình uốn khúc, đập đầu xuống đất, hướng về vị sa môn mà sám hối. Vị sa môn nói: 

- Hai người đời trước đã tạo oan nghiệt gây khó cho nhau. Vậy kể từ nay tội lỗi mỗi người sẽ được chấm dứt, đời đời không được có ý niệm giết hại nhau nữa! 

Cả hai đều ăn năn, rắn độc nhờ sức chú nguyện của vị sa môn liền được thác sinh làm thân người.

19. Giúp đỡ là thói quen của tôi

Một thiền sinh ngắm nhìn dòng suối hiền hòa, bỗng nhiên trông thấy một con bọ cạp rớt xuống suối.

Vị thiền sinh này đưa tay vớt nó và nhẹ nhàng để nó lên mặt đất. Con bọ cạp theo phản ứng tự nhiên là cong đuôi chích bất cứ ai đụng đến nó.

Mặc dù bị nó chích rất đau, nhưng ông không hề tức giận, vì đã làm được một việc mà ông thích làm là cứu sống được con bọ cạp. Sau đó, ông đứng lên đi, nhưng đi được vài bước, ông quay lại nhìn con bọ cạp, thì thấy nó lại té xuống suối nữa.

Ông vội vàng chạy lại vớt nó, rồi cẩn thận đặt nó lên mặt đất.

Lần thứ hai cũng như lần đầu, ông cũng bị nó chích nữa. 

Trông thấy cảnh tượng này, một sư huynh đứng bên cạnh bực mình, nói lớn: 

- Con bọ cạp vô ơn bạc nghĩa như vậy, cắn hoài, cứu nó làm gì cho mệt. Kệ xác nó!

Ông thản nhiên trả lời: 

- Chích là thói quen của con bọ cạp, giúp nó là thói quen của tôi!

20. Người lương thiện là người thắng cuộc

Ngày xưa, một cặp vợ chồng nọ đã phải đi gặp Thần Chết.

Vị Thần Chết nói: 

- Hai người các ngươi chỉ có thể sống một người, các người hãy oẳn tù tì, người thua thì phải chết.

     Hai lần oẳn tù tì trước đó cả hai vợ chồng đều ra giống nhau; đến lần thứ ba, người chồng lại thua…Thần Chết thở dài nói: 

- Vốn dĩ chiếu theo lệ của ta, nếu như các ngươi ba lượt đều ra giống nhau, ta sẽ thả các ngươi ra, không muốn phải dùng đến lần thứ tư để phân thắng bại.

     Nghe xong, người vợ ôm chằm lấy người chồng tấm tức mà rằng: 

- Đã nói là 3 lần đều cùng nhau ra búa, tại sao lần thứ ba tôi ra cái kéo thì anh lại ra bao?

     Thực tế, đây chính là nhân tâm, là sự ích kỷ và ngốc ngếch của bộ phận một nhóm người, tính toán với người khác cuối cùng thành ra tính toán với chính mình. Khi người ngu ngốc muốn thua, kỳ thực anh ta đã thắng rồi. Cho nên, nếu lúc nào cũng lương thiện…thì bạn đã là người thắng cuộc! Làm người hãy luôn giữ trong tâm sự phúc hậu, lương thiện vậy.

     21. Đối xử tử tế với người là đang giúp chính mình.

Một người lính bị quân địch tập kích, phải chạy trốn vào hang núi.

Khi quân địch đuổi theo sát sau lưng, anh ta đành trốn trong hang, thầm cầu nguyện kẻ địch không thể phát hiện ra mình. Đột nhiên, cánh tay anh ta cảm thấy nhồn nhột ớn lạnh, quay lại nhìn thì phát hiện ra một con nhện, anh ta định bóp chết nó nhưng đột nhiên sinh lòng thương cảm nên thả nó ra.

Không ngờ, nhện bò đến cửa hang dệt một mạng lưới mới. Quân địch đuổi tới hang núi thì thấy một mạng nhện còn nguyên lành, đoán rằng không có ai trong hang nên kéo nhau bỏ đi.

Thế nên, nhiều khi, đối xử tử tế người khác đồng thời cũng là đang giúp chính mình.

     22. Tâm giản dị chính là đạo

Một hành giả hỏi lão hòa thượng: 

- Trước khi đắc Đạo, ngài làm gì? 

Lão hòa thượng đáp: 

- Đốn củi, gánh nước, nấu cơm.

Hành giả lại hỏi: 

- Vậy đắc Đạo rồi thì sao?

Lão hòa thượng: 

- Đốn củi, gánh nước, nấu cơm.

Hành giả ngạc nhiên: 

- Vậy thế thì có gì khác với lúc chưa đắc Đạo?

Lão hòa thượng nhắm mắt, giảng giải: 

- Trước khi đắc đạo, khi đốn củi thì lo lắng đến gánh nước, lúc gánh nước lại nghĩ chuyện nấu cơm. Khi đắc đạo rồi, đốn củi thì cứ đốn củi, gánh nước thì là gánh nước, nấu cơm thì cứ nấu cơm.

Đại Đạo chí giản chí dị, tâm giản dị chính là Đạo.

23. Làm điều mình ưa thích thì dễ thành công

Một người đàn ông ôm đứa con khoảng 10 kg của chính mình thì sẽ không thấy mệt, vì đó là điều anh ta ưa thích; nhưng cũng người đàn ông này mà bảo anh ta ôm một hòn đá nặng 10 kg, chắc chắn anh ta sẽ kiên trì không được bao lâu.

Phàm một người không thích làm việc nào đó, thì dù anh ta có tài hoa hơn người, cũng không cách nào phát huy; còn một người một khi thích làm việc gì đó, thì anh ta sẽ phát huy hết năng lực của mình, làm cho cả anh cũng phải chấn động.

 Vì thế, một người không có thành tích gì, không nhất định là anh ta không có năng lực, rất có thể là vì không ưa thích mà thôi.

     24. Chỉ có người yêu thương bạn mới vì bạn

Trong Thế Chiến II, một gia đình Do Thái bị bức hại, người con trai cả và trai út chia nhau ra đi tìm người giúp đỡ.

     Người con trai cả đi tìm người từng giúp đỡ mình, người con trai út cậy đến những người bản thân từng được anh ta giúp đỡ. Kết quả là người con trai cả được cứu, người con trai út thì bị bán đứng.

     Người yêu thương bạn sẽ một mực nguyện vì bạn mà phó xuất rất nhiều; người bạn yêu thương không nhất định sẽ nguyện ý vì bạn mà phó xuất. Trong cuộc sống này, những ai thật sự trung thành đối với bạn đều là những người yêu thương bạn, từng ban cho bạn ân huệ.

     25. Thay đổi bản thân chính là thay đổi hoàn cảnh

     Quạ đen bay đến hướng đông, gặp được bồ câu. Cả hai đều đứng trên một gốc cây nghỉ ngơi, bồ câu thấy quạ đen bay rất vất vả, mới quan tâm hỏi han:  

- Anh muốn đi đâu vậy?

     Quạ đen căm giận đáp: 

- Kỳ thực ta không muốn rời đi, nhưng người dân nơi này đều ghét bỏ tiếng kêu không hay của ta.

     Bồ câu mới tốt bụng nói: 

- Đừng phí sức, nếu như anh không thay đổi được tiếng kêu của mình, thì dù bay đến đâu, anh cũng đều sẽ không được hoan nghênh đâu.

     Làm việc cũng thế, thay đổi mục tiêu không bằng thay đổi phương thức; thay đổi hoàn cảnh không bằng thay đổi chính mình.

     26. Chỉ có bản thân mới cứu được bạn

     Một con lừa vô ý rơi vào giếng cạn, mọi người nghĩ cách cứu nó nhưng không ai thành công; họ liền quyết định chôn luôn con lừa. Con lừa đau xót kêu to, nhưng khi bùn đất rơi xuống, nó lại bình tĩnh một cách bất ngờ. 

     Nó cố gắng đứng trên bùn đất đang rớt xuống ầm ầm và giẫm nát bùn đất dưới chân, cố gắng đứng cao hơn một chút. Cứ như vậy, nó theo bùn đất rớt xuống mà không ngừng lên cao. Cuối cùng, trong sự kinh ngạc của mọi người, con lừa bước ra khỏi giếng cạn.

     Thời khắc mấu chốt có thể cứu bạn, thì chỉ có chính bạn thôi.

     27. Kiên định mới có thành công

     Một người trẻ tuổi chán nản đi tìm kiếm sự thành công. Một triết gia bèn cho anh ta củ lạc và nói: 

- Hãy dùng sức nắn nó!

     Người trẻ tuổi dùng sức nắn nó; quả lạc bị vê nát, chỉ còn lại hạt bên trong. Triết gia lại bảo anh ta chà xát nó, kết quả chà xát ra được phần vỏ ngoài màu đỏ, chỉ còn lại phần hạt trăng trắng. Triết gia lại bảo anh ta tiếp tục chà xát nó, nhưng bất luận dùng sức thế nào, anh ta không thể vê nát được phần hạt trắng này.

     Triết gia bèn nói: 

- Dù rằng nhiều lần trắc trở, nhiều lần thất bại, nhưng điều then chốt nhất là phải có được một trái tim kiên định.

28. Câu chuyện về một bác sĩ

Vị bác sĩ nọ vội vàng vào bệnh viện sau khi nhận được thông báo về một cuộc phẫu thuật khẩn cấp. Đến nơi, ông nhanh chóng thay trang phục và đi thẳng vào phòng phẫu thuật. Ông đã gặp cha của cậu bé sẽ được phẫu thuật đang đứng đợi. Khi nhìn thấy ông, cha cậu bé hét lên: 

- Tại sao ông lại đi lâu vậy? Ông có biết rằng cuộc sống của con trai tôi đang gặp nguy hiểm không? Ông không có bất kỳ ý thức trách nhiệm nào à?

 Bác sĩ mỉm cười và nói: 

- Tôi xin lỗi! Tôi không ở trong bệnh viện và tôi đã đi nhanh nhất có thể sau khi nhận được cuộc gọi. Và bây giờ, tôi muốn anh bình tĩnh lại để tôi có thể làm công việc của tôi ... 

- Bình tĩnh thế nào được nếu là con trai của ông đang nằm trong căn phòng này , ông sẽ bình tĩnh được không ? Nếu con trai của ông sắp chết ông có bình tĩnh nổi không? - Cha cậu bé nói một cách giận dữ.

Bác sĩ mỉm cười một lần nữa và trả lời: 

- Tôi sẽ nói lại những gì trong Sách Thánh viết: "Chúng ta đến từ cát bụi và sẽ trở về cát bụi , may mắn là tên của Thiên Chúa". Các bác sĩ không thể kéo dài cuộc sống. Hãy đi và cầu nguyện cho con trai của anh, chúng tôi sẽ làm những gì tốt nhất nhờ ân điển của Đức Chúa Trời. 

Ca phẫu thuật mất khoảng vàng tiếng đồng hồ, sau đó các bác sĩ bước ra khỏi phòng phẫu thuật với những nụ cười rạng rỡ: 

- Cám ơn Chúa , con trai của anh được được cứu ! 

Không chờ đợi câu trả lời của người cha, ông đã chạy như bay ra thang máy và không quên nói vọng lại: "Nếu anh có bất kỳ câu hỏi nào, hãy hỏi các y tá !". 

- Tại sao ông ta lại ngạo mạn thế chứ? Ông ta không thể chờ đợi một vài phút để tôi hỏi về tình trạng của con trai tôi sao?  - Cha cậu bé nói, giọng hằn học.

 Cô y tá trả lời người cha, đôi mắt đẫm lệ: 

- Con trai ông ấy qua đời hôm qua trong một tai nạn giao thông, ông ấy đang bận mai táng cho con trai khi chúng tôi gọi ông tới bệnh viện phẫu thuật cho con trai anh. Ông ấy đã cứu được cuộc sống của con trai anh và bây giờ ông ấy lại chạy đi để hoàn thành nốt việc chôn cất con trai mình.

29. Cậu bé hiếu thuận và đôi guốc gỗ thần kỳ

Có hai mẹ con nọ sống nương tựa vào nhau, người con trai đang còn nhỏ nhưng rất ngoan ngoãn và hiếu thuận.

Khi đứa trẻ được bảy, tám tuổi, người mẹ bỗng nhiên mắc trọng bệnh, trong nhà lại nghèo túng, không cách nào mời thầy thuốc đến chẩn bệnh, đứa bé thấy vậy rất lo lắng, không biết nên làm thế nào cho phải?

Nếu không điều trị kịp thời, mẹ sẽ bệnh chết mất. Đứa trẻ lòng nóng như lửa đốt, đành phải tìm đến người chú ruột là thân nhân duy nhất để mượn tiền chạy chữa cho mẹ. Người chú mới nghe nói đến hai từ “mượn tiền” sắc mặt liền lập tức thay đổi. Ông nói: 

- Trẻ con làm sao có thể tùy tiện đi mượn tiền người khác được?
Đứa trẻ nói: 

- Nếu không có tiền mẹ cháu sẽ bệnh chết mất. Nên cháu mới bất đắc dĩ tới chú xin mượn tiền.

Người chú lại nói: 

- Có phải mày đến giả mượn tiền để lừa ta hay không? Ta sẽ không dễ dàng đưa tiền đâu.

Đứa bé lại không ngừng khóc lóc cầu xin, nước mắt tuôn rơi đầy mặt, người chú lúc này mới gượng ép nói: 

- Được rồi, ta sẽ cho mày mượn tiền. Nhưng tuyệt đối lần sau không được đến mượn nữa!

Người chú đưa cho đứa bé mượn một ít tiền, số tiền chỉ đủ mua một thang thuốc. Dù vậy đứa bé vẫn không ngừng dập đầu cảm tạ người chú, rồi cầm lấy tiền vội vàng đi tìm thầy thuốc.

Sau khi người mẹ uống thuốc thì thấy người khỏe hơn chút. Nhưng chỉ uống một thang thì không thể làm bệnh khỏi được, đứa bé đành phải miễn cưỡng tiếp tục tìm đến người chú cầu xin mượn tiền.

Nhưng lần này, người chú chẳng những không gặp mà ngay cả cửa nhà cũng đóng chặt, không cho đứa bé bước vào. Bất luận đứa bé có cầu xin, khóc lóc thế nào, người chú nhất định không chịu mở cửa. Một mạch cầu xin mãi cho tới hoàng hôn, đứa bé nghĩ mẹ hiện đang ở nhà một mình không ai chăm sóc, nên đành phải ra về. Nó vừa đi vừa khóc, không cẩn thận đụng phải một người, ngẩng đầu nhìn thì thấy là một ông lão rất già.

Đứa bé nhìn ông lão rồi không ngừng cúi đầu giải thích: 

- Xin ông thứ lỗi! Vì cháu đang rất đau lòng nên không chú ý tới ông, thật là xin lỗi ông!

Ông lão hỏi: 

- Có chuyện gì mà cháu lại thương tâm đến thế?

Đứa bé liền kể lại chuyện mẹ bị bệnh cho ông lão nghe. Nghe xong ông nói: 

- Cháu thật là một đứa trẻ hiếu thuận. Đừng lo lắng, ta sẽ giúp cháu. 

Nói rồi ông lão lấy từ trong túi ra một đôi guốc gỗ, nhưng kỳ lạ là đôi guốc chỉ có một đế và một bản gỗ.

Ông lão nói: 

- Này cháu! Nếu cháu cần tiền thì mang đôi guốc này vào đi vài bước, nó sẽ phát ra tiếng kêu leng keng lộc cộc, trên mặt đất sẽ xuất hiện vàng và bạc trắng. Cháu có thể cầm đi đổi tiền.

Đứa bé cầm đôi guốc gỗ hỏi ông lão: 

- Đôi guốc này chỉ có một chân đế, liệu đi đường có thể vững vàng sao?

Ông lão liền nói: 

- Cho nên muốn dùng nó cần phải có lòng kiên trì và chân thành.
Thế là đứa bé cung kính, vui vẻ cầm lấy đôi guốc gỗ.

Ông lão lại nói: 

- Cháu cần nhớ kỹ, tiền đủ dùng là được, vì sau một lần mang nó, nếu không dừng lại mà tiếp tục mang, cơ thể sẽ càng lúc càng teo nhỏ lại, mang một lần thì sẽ thấp bé lại một lần.

Đứa bé nói: 

- Xin ông cứ yên tâm, cháu biết nên dùng như thế nào rồi ạ.

Đứa bé cầm đôi guốc gỗ về nhà, y theo phương pháp của ông lão nói bèn thử mang vào đi, trên đất quả nhiên có vàng bạc xuất hiện, nó rất vui mừng vội vàng cởi guốc gỗ ra, nhặt vàng bạc trên mặt đất đi đổi thành tiền, lại đi mời thầy thuốc đến bốc thuốc chữa bệnh cho mẹ. Không lâu sau, người mẹ liền khỏi bệnh, mạnh khỏe trở lại.

Qua một thời gian, người chú nghĩ thầm: “Đã lâu rồi thằng bé không đến đây, không biết mẹ nó đã chết chưa?”. Rồi ông bèn đến nhà hai mẹ con xem tình hình thế nào. Người chú rất ngạc nhiên khi thấy cuộc sống của hai mẹ con có vẻ khấm khá, hơn nữa cả hai đều nhìn rất khỏe mạnh, khí sắc cũng rất tốt.

Người chú cảm thấy rất kỳ quái, bèn hỏi đứa bé: 

- Cháu làm thế nào mà có thể cải thiện hoàn cảnh của mình thế? Mẹ cháu làm sao mà khỏe lại vậy?

Đứa bé trung thực nói rõ hết thảy mọi chuyện cho người chú nghe. Người chú tức khắc bảo đứa bé đem đôi guốc gỗ ra để mình nhìn một cái. Sau khi cầm đôi guốc trong tay, người chú nói: 

- Cháu nói đều là thật sao? Chú không tin, để tránh việc cháu cầm đôi guốc đi lừa người khác, từ nay chú sẽ cất giữ đôi guốc gỗ này.

Thế là người chú cầm đôi guốc gỗ đi mất. Mặc dù đứa bé không nỡ, nhưng người chú là trưởng bối, nên cũng không còn cách nào khác.

Người chú sau khi trở về liền ngay lập tức mang vào chân, thấy trên mặt đất thực sự xuất hiện vàng bạc thì rất vui mừng, nên không ngừng đứng trên đôi guốc mà bước đi, bất tri bất giác. Thân thể người chú dần dần nhỏ lại, thậm chí còn nhỏ hơn đôi guốc gỗ, cuối cùng, chỉ có thể nhìn thấy đôi guốc mà không thấy bóng dáng của người chú đâu, vì thân thể ông ta đã nhỏ đến như hạt cát rồi.

30. Chỉ có thiện tâm mới đủ sức mạnh cảm hóa lòng người

Vào thời Xuân Thu (770 TCN - 476 SCN), khi Tử Lộ của nước Lỗ đến bái kiến đức Khổng Tử lần đầu tiên, ông ta phục sức sang trọng, trên đầu gài một chiếc lông chim và có phong thái ngạo mạn.

Sau khi nghe Khổng Tử thuyết giảng về đức tính khiêm nhường, ông ta nhận ra ngay lỗi lầm, đi thay trang phục của người học trò bình thường và cùng mọi người học tập lễ nhạc. Khổng Tử đã thuyết giảng về đạo làm quân tử và phép trị nước như sau:

“Bậc quân tử coi trọng nhất là chữ ‘nghĩa’. Với bậc quân tử, có dũng mà không có nghĩa thì là làm loạn; với bậc tiểu nhân, có dũng mà không có nghĩa thì là kẻ đạo tặc. Bậc quân tử mưu cầu đạo chứ không mưu cầu miếng ăn, lo cho đạo chứ không lo lắng cảnh bần cùng. Làm quan phải gương mẫu, yêu thương dân chúng và không được lười nhác trễ nải”.

Nhờ Tử Lộ đi theo phò tá Khổng Tử chu du liệt quốc và hoằng dương đạo đức, cảnh giới tư tưởng của ông không ngừng thăng tiến. Ông nhất mực tin tưởng vào người thầy của mình và tận sức phục vụ quốc gia.

Khổng Tử khen ngợi ông: 

- Tử Lộ thích nghe lời khiển trách, không ngừng sửa chữa lỗi lầm, đó gọi là tiến bộ!

Sau này khi Tử Lộ được bổ nhiệm làm quan huyện Bồ Ấp, ông thực hành việc giáo hóa dân chúng bằng lễ nhạc. Quả nhiên 3 năm sau, huyện Bồ Ấp trở nên an cư lạc nghiệp, dân chúng sống thuần hậu, được Khổng Tử nhiều lần ca ngợi.

31. Làm người phải biết phục thiện

Vào thời nhà Minh (1368-1644), có một người đàn ông ở tỉnh Sơn Tây tên là Ngũ Thiên Cân, là người học võ nên rất dũng mãnh và khá hung dữ. Mỗi khi anh ta nghe thấy ai đó nói câu nào không hợp ý mình liền lao vào đánh người. Anh ta thường lấy đồ hoặc vay tiền người khác mà không hoàn trả, vì vậy mà mọi người ai cũng sợ.

Một hôm trời rất nóng bức, anh ta leo lên lầu thượng của một tòa nhà để hóng mát. Mọi người trông thấy anh ta thì đều sợ mà bỏ chạy cả, chỉ duy có một ông lão vẫn đứng đó không động đậy. Anh ta thấy vậy bèn nổi cơn thịnh nộ: 

- Bọn chúng chạy cả rồi, chỉ còn ông vẫn đứng đó, có phải ông vẫn chưa biết quyền cước của ta lợi hại thế nào chăng?

Ông lão đáp: 

- Anh chấp mê bất ngộ. Cha mẹ anh dưỡng dục anh trưởng thành, hy vọng anh trở thành người có ích cho đất nước. Anh thân đầy võ nghệ, đã không báo đáp cho quốc gia, lại còn hành xử như kẻ vô lại. Quốc gia đã thiếu mất một nhân tài hữu dụng, đáng tiếc thay, đáng tiếc thay!

Ngũ Thiên Cân sau khi nghe lời dạy bảo của ông lão, cảm thấy rất hổ thẹn, nói trong nước mắt: 

- Mọi người đều nói tôi là kẻ xấu, tôi cũng thấy mình là kẻ xấu. Hôm nay nghe lời dạy bảo của lão nhân gia như tiếng chuông sớm đánh thức tôi khỏi giấc ngủ mê. Nhưng tôi hành ác đã lâu, giống như trăng khuyết đến bao giờ mới tròn đầy trở lại. Tôi tự hỏi tôi còn có thể trở thành chính nhân quân tử được hay không?

Ông lão đáp: 

- Nếu anh kiên quyết hồi tâm chuyển ý, tu thân hướng thiện thì lẽ nào lại không thể tu thành chính nhân quân tử được?

Ngũ Thiên Cân từ đó xa lánh điều ác, chú trọng làm việc thiện, tận sức báo đáp quốc gia. Về sau ông được phong làm Phó Nguyên soái, trị quân nghiêm minh, thương dân như con, được dân chúng khắp nơi khen ngợi.

32. Cứu Rùa Được Phong Thần

Thời nhà Tấn, tại đất Sơn Âm, có một chàng thanh niên tên là Khổng Du, nguyên là một việc quan cấp nhỏ, từng mua một con rùa đem thả dưới sông. Con rùa ấy hình như hiểu được lòng người, nên sau khi xuống nước, lại ngoái đầu nhìn chăm chăm vào Khổng Du, rồi mới lần lần bơi đi. Khổng Du cũng cảm thấy không thể rời bỏ nó.

Về sau, Du đánh giặc có công, được phong hầu cực kỳ vinh hiển. Lúc đúc chiếc ấn phong hầu, thì trên quả ấn xuất hiện hình con rùa ngoái đầu nhìn lại, mọi người đều cho là chuyện kỳ quặc, bèn phá hủy chiếc ấn ấy, rồi đúc lại chiếc khác. Đúc đi đúc lại như thế nhiều lần mà lần nào cũng có hình rùa hiện lên trên ấn. Thợ đúc kiểm tra kỹ khuôn đúc, thì chẳng thấy có dấu vết gì, nhưng trên ấn vẫn có hình rùa. Họ rất đỗi băn khoăn, liền mang ấn đến trình lên Khổng Du và thưa: 

- Bẩm đại quan, chúng tôi đúc xong ấn, bỗng thấy hiện lên hình rùa ngoảnh đầu nhìn lại, không hiểu tại sao?

Khổng Du bèn bảo thợ đúc phá đi, đúc lại nhưng kết quả vẫn như trước. Khổng Du cũng lấy làm quái lạ. Chuyện ấy dần lan truyền đến triều đình, nhà vua liền mời Khổng Du vào triều để hỏi rõ nguyên nhân, nhưng Du không biết làm sao trả lời, suy nghĩ trăm chiều cũng không tìm ra được kết luận.

Thế rồi, trên đường từ triều đình trở về nhà, Khổng Du đột nhiên nhớ lại một sự kiện đã xảy ra ngày trước. Do đó, hôm sau, ông vào triều tâu với nhà vua: 

- Tâu đại vương, thần đã nghĩ ra nguyên nhân rồi: Trước đây nhiều năm, nhân thấy ngư phủ thả lưới bắt một con rùa, thần không nỡ thấy nó chết nên mua nó thả vào trong nước. Con rùa ấy hình như hiểu được ý người nên ngoi đầu lên mặt nước,nhìn chầm chập vào thần. Ngày nay, thần được vệ hạ đoái thương phong hầu cho thần, đó chính là do kết quả của việc thả rùa ngày trước vậy.

Vua nghe xong liền bảo với quần thần: 

- Làm điều thiện chắc chắn có sự báo đáp của việc thiện, trường hợp của Khổng Du ngày nay là một sự kiện rất đáng cho chúng ta suy ngẫm.

33. Cứu chim sẻ – Con cháu bốn đời vinh hiển

Vào đời Hán, ở phía Bắc núi Hoa Âm có một gia đình họ Dương, chuyên về nông nghiệp, chỉ sinh một cậu con trai, đặt tên là Dương Bảo. Cậu Bảo từ bé đã thông minh, lanh lợi, mày thanh, mắt sáng, đầu để hai bím tóc, ai trông thấy cũng yêu mến.

Dương Bảo tính tình nhân từ, vừa lúc chín tuổi đã yêu thích thắng cảnh thiên nhiên, thường lây chốn núi rừng làm bầu bạn. Một ngày kia, chàng đi đến bên triền núi phía trước nhà, bỗng nghe tiếng kêu bị thương của một con chim sẻ, ngoái đầu nhìn lên trên không, chợt thấy một chú diều hâu đang gắp một con sẻ vàng. Nhân thấy có người, nên diều hâu kinh hãi để rơi chim sẻ đang bị thương xuống đất.

Trong lúc tính mạng sắp lâm nguy, chim sẻ còn bị một đàn kiến kéo đến bao vây. Dương Bảo liền chạy vội tới, nhặt lấy chim sẻ ôm vào lòng bàn tay, đàn kiến lập tức bỏ chạy tứ tán. Bảo bèn mang chim sẻ về nhà nuôi trong một cái lồng, thương yêu, chăm sóc rất chu đáo. Tìm hoa vàng rịt vết thương cho chim, chờ đến khi vết thương lành hẳn, mới đem thả vào rừng.

Một hôm, vào lúc đêm gần tàn, Bảo bỗng mơ thấy một tiểu đồng mặc áo màu vàng hướng đến Bảo lạy tạ, cảm ơn cứu mạng; đồng thời dâng tặng bốn vòng bạch ngọc và nói: 

- Cảm tạ ân nhân! Tôi vốn là sứ giả của Vương mẫu, nhờ ơn người cứu mạng, không biết lấy gì báo đáp ân sâu, kính tặng người bốn vòng bạch ngọc, cầu mong con cháu được vinh hiển, làm đến công khanh.

Ban đầu Bảo không dám nhận tặng vật của tiểu đồng, nhưng trước tấm lòng chân thành, buộc lòng Bảo phải nhận lấy ngọc ấy. Thoắt nhiên tỉnh giấc, nhớ lại giấc mộng vừa qua, Bảo lấy làm kinh dị, miệng lẩm bẩm: “Thật là một giấc mộng ly kỳ! Thật là một giấc mộng ly kỳ!”

Quả nhiên sau đó, con cháu của Dương Bảo liên tiếp bốn đời làm đến công khanh, vinh hiển tột cùng.

34. Làm việc thiện sớm – nhận quả báu nhiều

Khi Đức Thế Tôn ngự tại Kỳ Viên Tịnh Xá của Bá Hộ Cấp Cô Độc xứ Savatthi, có một thầy Bà La Môn tên là Culekasataka Kha Ly (Culekasataka có nghĩa là người chỉ có một cái khăn choàng nhỏ).

Thật vậy hai vợ chồng người Bà La Môn Kha Ly rất nghèo nàn, trong nhà chỉ có một cái choàng thay nhau mà choàng lúc vợ hay chồng có việc phải ra ngoài.

Ngày kia nghe tin Đức Thế Tôn thuyết pháp tại Kỳ Viên Tịnh Xá. Hai vợ chồng mới bàn nhau coi ai đi nghe thuyết pháp ban ngày và ai đi nghe ban đêm. Bà vợ nói:

     - Chàng là người đàn ông, thôi đi nghe ban đêm, để tôi đàn bà đi nghe ban ngày.

Trong khi bà vợ đi nghe thuyết pháp ông chồng ở nhà cả ngày. Đêm lại ông chồng mới đi nghe thuyết pháp. Trong khi nghe pháp ông được phát sinh năm điều hỷ lạc nên thầy Bà La Môn muốn cởi tấm choàng cúng dường cho Đức Phật, nhưng lại nghĩ rằng:

     - Nếu ta cúng dường tấm choàng này thì vợ ta và ta không có cái nào khác. Và ngay khi ấy tâm bỏn xẻn phát sinh trong người thầy Bà La Môn.

Sự thật làm con người khi một tâm lành sinh lên, cả ngàn tâm ác kéo lại. Vì tâm ác quá mạnh níu lại nên thầy Bà La Môn không thể bố thí tấm choàng được.

Trong lòng thầy lúc này tâm lành và tâm ác đang chiến đấu nhau giữa hai ý có nên hoặc không nên cúng dường tấm choàng? Thầy suy nghĩ mãi, hết canh thứ nhất thầy vẫn chưa biết ngã ngũ ra sao cả.

Đến canh thứ nhì, cũng chưa thể mạnh dạn bố thí được. Qua đến canh thứ ba (thời ấy đêm chia làm ba canh) tâm thiện cương quyết, thầy nói rằng:

- Ta phải chiến đấu với tâm bỏn sẻn cả hai canh rồi, thì thấy tâm bỏn sẻn rất mạnh, nó sẽ không cho ta giải thoát khỏi 4 đường ác đạo. Bây giờ ta nhất định cúng dường cái choàng này.

Khi ấy, thầy Bà La Môn Kha Ly đã dẹp được lòng bỏn sèn, liền cởi choàng đem ra để dưới chân đức Thế Tôn rồi la lên rằng:

-Tôi thắng rồi, tôi thắng rồi! 

Đức vua Pasenadi đang dự nghe thuyết pháp bỗng nghe tiếng la như thế mới truyền quan hầu cận đến hỏi thầy Bà La Môn ấy là ai thắng? Thắng cái gì? (nhà vua trong thời ấy đại kỵ với tiếng thắng).

Khi các quan hỏi, thầy Bà La Môn mới thuật rõ tự sự. Đức vua nghĩ rằng: “ Thầy Bà La Môn này làm chuyện rất khó, ít người làm được”. Rồi đức vua ban cho thầy Bà La Môn ấy hai cái choàng.

Thầy Bà La Môn bèn đem hai cái choàng của nhà vua ban cho dâng lên Đức Thế Tôn. Đức vua ban cho lần thứ nhì bốn cái, lần thứ ba tám cái, lần thứ tư mười sáu, lần thứ năm ba mươi hai cái, thầy  Bà La Môn ấy cũng đem dâng cho Đức Thế Tôn hết.

Đức vua mới truyền đem cho thầy sáu mươi bốn cái nữa đó là lần thứ sáu, thầy Bà La Môn mới lấy bốn cái để cho vợ hai cái và thầy hai cái còn lại sáu mươi cái thầy cũng dâng hết cho Phật. Theo thầy thì muốn bố thí luôn, nhưng sợ e có người dị nghị rằng thầy ỷ lại nơi nhà vua cho. Đức vua thấy thầy Bà La Môn Kha Ly bố thí khăn choàng đến bảy lần như vậy. Ngài mới phán vị đại thần ngồi gần:

     - Hiền khanh! Thầy Bà La Môn này làm việc mà người ta khó có thể làm được, và ngài bảo vị đại thần về lấy hai cái choàng thứ Kambola (nhung đỏ) giá mỗi tấm một muôn đồng tặng thầy Bà La Môn.

Một lần nữa thầy Bà La Môn bèn dâng lên đức Phật một tấm, còn một tấm để treo làm trần nhà đặng thỉnh Đức Phật và chư tăng đến cúng dường.

Đức vua thấy vậy liền bố thí thêm cho thầy những món: bốn ngàn đồng, bốn con tượng, bốn con ngựa, bốn người tớ trai, bốn người tớ gái và bốn làng để thâu thuế.

Sau khi ấy, các thầy Tỳ Khưu mới xúm nhau lại nói rằng: 

- Thật quả sự bố thí của Thầy Ba La Môn lạ lùng quá, chỉ trong nháy mắt mà được kết quả đầy đủ, thật là gieo giống nhằm ruộng tốt.

Đức Thế Tôn nghe nói, dạy rằng:

     - Nầy các Thầy Tỳ Khưu, nếu thầy Bà La Môn ấy dâng cúng lúc canh một sẽ được mỗi vật mười sáu món, còn bố thí canh hai thì được mỗi vật tám món. Vì thầy Bà La Môn ấy chờ gần sáng nên mỗi vật chỉ được có bốn món thôi. Sự thật trong khi người muốn làm phước không nên để tâm lành sinh lên rồi diệt mất, khi nào đã nghĩ thì phải thực hành liền.

Vì việc phước thiện mà người làm bằng chậm trễ thì quả cũng trả một cách chậm tùy theo tâm lành mạnh yếu. Vậy hãy làm việc phước thiện bằng tâm mới phát khởi.

Và ngài kết luận bằng một cậu kệ: “Người cần phải làm điều lành nên ngừa tâm không cho làm ác, vì khi làm việc lành chậm thì tâm sẽ vui thích về điều ác”.

35. Tâm mình mới đi theo mình mãi

Thuở xưa có một ông trưởng giả nọ sang giàu hơn thiên hạ. Gia đình sinh sống trong cảnh vô cùng sung túc. Bằng mọi thứ sung sướng mà tiền của đã đưa đến cho ông. Còn có cái thú khác nữa mà ai cũng thèm muốn đó là ông có bốn bà vợ xin đẹp trẻ trung không ai chịu nhường ai.

Bà vợ thứ nhất được ông yêu mến hơn hết. Vợ chồng gần gũi nhau không giây phút  nào rời. Ông ta chiều hơn cả cô chiều ông. Ông chăm sóc luôn cả món ăn đồ mặc cho nàng, sắm sửa gì trong gia đình thì ông lo sắm cho cô ta trước. Mỗi mùa mưa nắng, ông lo chạy chữa, đề phòng cho nàng làm sao cho sắc đẹp không hề sút kém.

Hai người ăn ở với nhau như bát nước đầy. Ông rất nuông chiều cô, chưa từng trái ý cô. Nhờ thế mà hai vợ chồng chưa từng có lời qua tiếng lại.

Cô vợ thứ hai không được chồng nâng niu gần gũi như cô chánh thất, nhưng cũng là một người biết thương biết trọng chồng. Nàng lo công việc gia đình ở phòng trong, ít khi gặp mặt chồng.

Thỉnh thoảng gặp được chồng nàng hân hoan sung sướng cố giành giựt với “chị nhà” đôi phút bên chàng. Sau hạnh phút ngắn ngủi ấy nàng lại trở về nhiệm vụ với vẻ mặt buồn thiu thỉu.

Cô hầu thứ ba xem chừng lạt lẽo như khách qua đường. Năm thì mười họa có gần gũi được chồng, nàng mới tạm gọi là cuộc đời đáng sống còn ngoài ra kiếp sống nàng cô độc lạnh lùng làm sao!… Nếu ông chồng chẳng vì lâu ngày nhớ nàng, lui tới với nàng trong giây lát hoặc nếu trong tư phòng nàng không có xảy ra việc gì bất thường, thì chắc cả gia đình không có ai còn nhớ đến nàng nữa.

Cô thứ tư: một kẻ tôi đòi trá hình không hơn, không kém. Suốt ngày đêm nàng làm không rảnh tay tất cả những công việc chồng giao cho. Nặng nhọc khó khăn, nàng không oán trách, chồng đối xử theo kẻ trọc phú bần tiện, nàng cũng chẳng cần. Mặc dù thế chưa có một lần nào nàng được chồng chú ý thương hại hoặc săn sóc giúp đỡ gì để gọi là trả ơn nàng hết lòng thờ chồng.

Bỗng một hôm ông trưởng giả lâm bệnh nặng. Ông  chạy chữa thuốc men đã nhiều nhưng không thấy thuyên giảm chút nào. Nhận thấy giờ lâm chung sắp đến, ông gọi người vợ thứ nhất đến nói:

     - Ta sắp chết đây, em phải theo ta về bên kia cõi đời cho có mặt nhau, lúc tử như lúc sinh.

Người vợ thản nhiên, đáp:

     - Tôi không thể theo anh được. Ông chồng ngạc nhiên hỏi:

    - Suốt đời ta rất yêu mến người, chiều theo mọi ý muốn của ngươi, sao bây giờ lại không đi theo ta? Trả nghĩa ta như thế ư? – Ông chồng thều thào tức giận.

     - Anh có lòng yêu mến tôi thật, nhưng tôi không thể nào đi theo anh được. Anh biết cho như thế là đủ rồi.

Ông chồng buồn bực gọi người vợ thứ hai và cũng bảo nàng chết theo mình. Cô hầu đáp:

     - Bình sanh anh yêu mến chị cả hơn hết sao anh không bảo chị đi theo? Tôi là phận em út hầu hạ, đâu có thể cùng chết với anh được?

Người chồng nhìn nàng đăm đăm nói:

- Ngày trước, lúc đi tìm cho được ngươi để đem về làm vợ là chuyện khó khăn không thể tả được. Ta phải chịu lạnh chịu nóng, chịu đói chịu khát vì ngươi. Bây giờ ngươi nghĩ sao mà không đi cùng ta?

Người vợ nói lại:

     - Anh chịu cực khổ khó khăn là để thỏa mãn lòng tham dục của anh. Vì nó thì anh trách nó chớ trách gì tôi? Anh cần đến tôi, chớ tôi có cần gì đến anh đâu mà anh đem chuyện gian khổ nói với tôi? Nếu anh chẳng thèm thuồng thân xác tôi thì anh đến tôi làm gì? Chuyện ấy tôi không mang ơn mắc nợ gì anh cả.

Người chồng lại kêu người vợ thứ ba đến và ưu ái khuyên nhủ nàng nên theo mình về bên kia cõi sống.

Người vợ thứ ba nói:

    - Lâu nay tôi đã chịu ơn huệ của anh, nay đến ngày cuối cùng của anh, tình vợ chồng dù sao cũng đậm đà nồng thắm rủi bề nào tôi sẽ tiễn đưa anh ra đến ngoài thành mà thôi chớ chắc không thể nào đi hơn đến chỗ anh an giấc nghìn thu được.

Ông chồng lại thất vọng. Trong số bốn vợ thì ba bà đã từ chối niềm chung thủy với mình. Ông cho gọi người hầu thứ tư lên và cũng như mấy lần trước anh bảo cô hầu phải cùng chết với ông cho có bạn.

Cô hầu trả lời:

     - Tôi xuất thân con gái, nhỏ ở với cha, thành gia thất ở với chồng. Tôi đã xa lìa cha mẹ đến đây hầu hạ anh để anh sai khiến, thì quyền chết sống vui buồn đều do anh. Đối với tôi tính mạng và cả cuộc đời tôi trao cả cho anh. Nay đến phút lâm chung, tôi xin theo anh cùng đi.

Ba người vợ trước là những người ý hiệp, tâm đầu với chồng mà không thể đi theo được. Người thứ tư khổ cực xấu xí, một kẻ tôi đòi chẳng chút nào hợp ý với chồng lại chịu chết cùng chồng.

Câu chuyện xảy ra làm ai ai cũng ngạc nhiên không sao hiểu tâm địa của mỗi hạng người. Có người đem câu chuyện lên trình Đức Phật. Ngài dạy: 

- Người vợ thứ nhất dụ cho thân người. Người đời ưa mến xác thân hơn cả vợ lẫn con, nhưng đến khi chết nằm trơ nơi đất chẳng chịu đi theo!

Vợ thứ hai dụ cho của cải! Không được thì vui chẳng được thì buồn. Đến khi chết, của cải hoàn lại cho đời, nào có chịu đi theo?

Vợ thứ ba là dụ cho cha mẹ vợ con, anh em, bạn bè tôi tớ v.v… Lúc sanh thời lấy ân nghĩa tình ái cùng nhau tưởng mến, đến khi chết, họ khóc lóc thảm thiết, thương nhớ nhau thật đấy nhưng cũng chỉ tiễn đưa đến ngoài thành tức nghĩa địa là cùng.

Lại khóc than thảm thiết lần nữa rồi cuối cùng họ từ giã nấm mồ hoang lạnh ai về nhà nấy, vì ai lại chẳng có công ăn việc làm, tình nghĩa riêng tư? Ai còn bận tâm đèo bòng theo người chết nữa?

Có thương nhớ chăng, lâu lắm cũng không quá mười ngày, rồi lại nhóm họp nhau ăn uống vui say quên mất người chết.

Nhưng người vợ thứ tư lại khác, vợ thứ tư là tâm ý của con người. Trong thiên hạ ai mà không có tự ái bảo thủ ý mình, buông tâm thả ý, tham dục, giận dữ, chẳng tin chánh đạo? Đến khi chết chỉ có tâm ý mới chịu đi theo để phải đọa vào ác đạo. Vì thế ta phải tự mình thẳng tâm chánh ý.

36. Một số câu danh ngôn về lương tâm:

- Đừng làm gì trái với lương tâm, ngay cả khi chính quyền yêu cầu bạn.
Never do anything against conscience even if the state demands it.
(Albert Einstein)
   
- Bất kì người nào cũng có lỗi vì đã không làm những điều tốt.
Every man is guilty of all the good he didn't do.
(Voltaire)
  
- Lương tâm là tiếng nói của linh hồn; Dục vọng là tiếng nói của cơ thể.
Conscience is the voice of the soul; the passions are the voice of the body.
(Jean Jacques Rousseau)       

 - Tôi tự do, cho dù xung quanh tôi là những luật lệ gì. Nếu tôi thấy chúng có thể chấp nhận được, tôi chấp nhận chúng; nếu tôi thấy chúng quá khó chịu, tôi phá vỡ chúng. Tôi tự do bởi tôi biết bản thân tôi chịu trách nhiệm trước lương tri mình vì mọi điều tôi làm.
I am free, no matter what rules surround me. If I find them tolerable, I tolerate them; if I find them too obnoxious, I break them. I am free because I know that I alone am morally responsible for everything I do.
(Robert A Heinlein)       

- Con đường an toàn nhất là không làm gì trái với lương tâm. Với bí mật này, chúng ta có thể hưởng thụ cuộc sống và không sợ chết.
The safest course is to do nothing against one's conscience. With this secret, we can enjoy life and have no fear from death.
(Voltaire)       

- Hạnh phúc của một người là kết quả nỗ lực của chính anh ta, một khi anh ta đã biết nguyên liệu cần thiết của hạnh phúc chỉ là một ít can đảm, sự tự chối bỏ ở mức độ nhất định, tình yêu công việc, và trên hết, một lương tâm trong sạch.
One is happy as a result of one's own efforts once one knows the necessary ingredients of happiness simple tastes, a certain degree of courage, self denial to a point, love of work, and above all, a clear conscience.
(George Sand)       

 - Lương tâm là la bàn của con người.
Conscience is a man's compass.
(Vincent Van Gogh)       

 - Với lương tâm, quy luật của số đông không có tác dụng.
In matters of conscience, the law of the majority has no place.
(Mahatma Gandhi)       
  
- Thế giới là mưu đồ triền miên chống lại kẻ can trường. Đó là cuộc vật lộn từ xa xưa: một bên là tiếng gào thét của đám đông, và bên kia là tiếng của lương tâm bạn.
The world is in a constant conspiracy against the brave. It's the age-old struggle: the roar of the crowd on the one side, and the voice of your conscience on the other.
(Douglas MacArthur)       
  
- Giọng con người không bao giờ đi được xa như giọng nói nhỏ bé của lương tri.
The human voice can never reach the distance that is covered by the still small voice of conscience.
(Mahatma Gandhi)       



- Lương tâm tội lỗi cần thú tội. Một tác phẩm nghệ thuật chính là một lời thú tội.
A guilty conscience needs to confess. A work of art is a confession.
(Albert Camus)       
  
- Có tòa án còn cao hơn tòa án công lý, và đó là tòa án của lương tâm. Nó thay thế cho mọi tòa án khác.
There is a higher court than courts of justice and that is the court of conscience. It supercedes all other courts.
(Mahatma Gandhi)       
  
- Lương tâm là người mẹ kế chẳng bao giờ ngừng tới thăm ta.
Conscience is a mother-in-law whose visit never ends.
(Henry Louis Mencken)       

- Lương tâm là giọng nói bên trong cảnh báo chúng ta rằng có thể có ai đó đang nhìn đấy.
Conscience is the inner voice that warns us somebody may be looking.
(Henry Louis Mencken)       
  
- Ý thức là khi bạn nhận thức được điều gì đó, và lương tâm là khi bạn ước giá mà mình không nhận ra.
Conscious is when you are aware of something, and conscience is when you wish you weren't.
(Khuyết danh)       

 - Lương tâm của chúng ta không phải là vật chứa của chân lý vĩnh cửu. Nó phát triển cùng với đời sống xã hội của chúng ta, và điều kiện xã hội thay đổi cũng dẫn tới sự thay đổi triệt để về lương tâm.
Our conscience is not the vessel of eternal verities. It grows with our social life, and a new social condition means a radical change in conscience.
(Walter Lippmann)       

 - Khi nào lương tâm của chúng ta sẽ trở nên dịu dàng đến mức chúng ta sẽ hành động để ngăn những nỗi đau khổ của con người thay vì báo thù cho nó?
When will our consciences grow so tender that we will act to prevent human misery rather than avenge it?
(Eleanor Roosevelt)       
  
- Một lương tâm tội lỗi không bao giờ cảm thấy yên tâm.
A guilty conscience never feels secure.
(Publilius Syrus)       

 - Không gì được phân phối công bằng hơn lương tri: không ai nghĩ mình cần nhiền hơn những gì mình đã sẵn có.
Nothing is more fairly distributed than common sense: no one thinks he needs more of it than he already has.
(Rene Descartes)       

  - Công lý là thứ nhất thời và cuối cùng cũng sẽ đi đến kết thúc; nhưng lương tâm là vĩnh cửu và sẽ không bao giờ lụi tàn.
Justice is a temporary thing that must at last come to an end; but the conscience is eternal and will never die.
(Martin Luther)       

 - Lương tâm là điều đau đớn khi mọi thứ khác đều có vẻ tốt đẹp.
Conscience is what hurts when everything else feels so good.
(Khuyết danh)       
  
- Tôi yêu những người có thể mỉm cười trong gian khó, có thể tìm được sức mạnh từ đau thương, và trở nên can đảm nhờ suy ngẫm. Những điều này có thể làm chùn bước một tinh thần yếu đuối, nhưng những người có trái tim kiên cường và hành động không trái với lương tâm sẽ theo đuổi các nguyên tắc của mình tới chết.
I love those who can smile in trouble, who can gather strength from distress, and grow brave by reflection. 'Tis the business of little minds to shrink, but they whose heart is firm, and whose conscience approves their conduct, will pursue their principles unto death.
(Leonardo da Vinci)       

 - Tự do lương tâm gây ra nhiều nguy hiểm hơn chính quyền và sự chuyên quyền.
Freedom of conscience entails more dangers than authority and despotism.
(Michel Foucault)       


- Công lý là lương tâm, không phải lương tâm cá nhân mà là lương tâm của toàn bộ nhân loại. Những ai nhận thức rõ ràng giọng nói của lương tâm chính mình thường cũng nhận ra giọng nói của công lý.
Justice is conscience, not a personal conscience but the conscience of the whole of humanity. Those who clearly recognize the voice of their own conscience usually recognize also the voice of justice.
(Aleksandr Solzhenitsyn)       

 - Hết mình vì cái thiện - sự cống hiến theo tiếng gọi của lương tâm hơn là vì những ràng buộc từ bên ngoài - vừa là thuốc giải độc cho nỗi đau, vừa là nguồn hạnh phúc lớn lao.
Dedication to goodness-dedication in response to an inner moral mandate rather than external restraint-was both the antidote to the pain and the source of great happiness.
(Sylvia Boorstein)       
  
- Lương tâm của mỗi người là lời nguyền rủa anh ta phải nhận từ các vị thần linh để đạt được quyền mơ ước.
A man's moral conscience is the curse he had to accept from the gods in order to gain from them the right to dream.
(William Faulkner)       
  
- Lương tri là Chúa trong mỗi con người.
Conscience is God present in man.
(Victor Hugo)       
  
- Một trái tim không có lương tâm, không còn linh hồn thì không khác gì một cỗ máy. Nó không biết phân biệt tốt xấu, thiện ác.
(Khuyết danh)       

 - Có lương tri mà không có giáo dục tốt cả ngàn lần hơn là có giáo dục mà không có lương tri.
It is a thousand times better to have common sense without education than to have education without common sense.
(Robert G. Ingersoll)       
  
- Chẳng tội lỗi nào bị lãng quên chừng nào lương tâm còn biết đến nó.
No guilt is forgotten so long as the conscience still knows of it.
(Stefan Zweig)       

- Hãy sống sao để lương tâm yên lặng.
Live so as to have a quiet conscience.
(Richard L Evans)       
  
- Không có lương tâm thì tất cả mọi thứ sẽ thất bại.
(Danh ngôn Hàn Quốc)      
   
- Lương tri là đặc điểm riêng của nhân loại.
Common sense is the genius of humanity.
(Johann Wolfgang von Goethe)       
  
- Người nhận thấy trên đường đời mình đã làm nhiều điều sai trái thường kinh sợ bật dậy mỗi đêm, giống như đứa trẻ gặp ác mộng, và cuộc đời anh ta đầy sợ bóng sợ gió; nhưng người lương tâm trong sạch tràn đầy vui vẻ và sự an nhàn tuổi già.
The man who finds that in the course of his life he has done a lot of wrong often wakes up at night in terror, like a child with a nightmare, and his life is full of foreboding: but the man who is conscious of no wrongdoing is filled with cheerfulness and with the comfort of old age.
(Plato)       

 - Hạnh phúc là tự thấy ở mình một linh hồn trong sạch.
(Khuyết danh)       

 - Chúng ta có thể chạy trốn khỏi nơi ta đang ở, nhưng không thể chạy trốn khỏi bản thân mình.
We can run away from where we are, but not from what we are.
(Richard L Evans)       

 - Vết bẩn trong tâm trí không bao giờ có thể được nước rửa trôi hay được dòng chảy thời gian xóa nhòa.
A mental stain can neither be blotted out by the passage of time nor washed away by any waters.
(Marcus Tullius Cicero)       

 - Không nhân chứng nào kinh khủng hơn, và không kẻ lên án nào hùng mạnh hơn lương tâm bên trong ta.
There is no witness so terrible and no accuser so powerful as conscience which dwells within us.
(Sophocles)       
   
- Mỗi chúng ta, khi đối diện với người khác, đều khoác lên chút phẩm tiết nào đó, nhưng chúng ta biết quá rõ tất cả những điều không thể thú nhận diễn ra trong tim.
Each of us, face to face with other men, is clothed with some sort of dignity, but we know only too well all the unspeakable things that go on in the heart.
(Luigi Pirandello)       
   
- Hãy giữ một trái tim kiên cường, một lương tâm trong sạch, và đừng bao giờ tuyệt vọng.
A stout heart, a clear conscience, and never despair.
(John Quincy Adams) 

Bài đăng phổ biến từ blog này

TÂM ĐẠO (Chương III)

TÂM ĐẠO (Chương II)

TÂM ĐẠO (Chương VII)