TÂM ĐẠO (Chương II)

 TÂM TỪ ĐÂU MÀ SINH RA?


Phần này chúng ta sẽ tìm lời giải đáp cho hai câu hỏi chính: Tâm ở đâu và tâm từ đâu mà sinh ra?

I. Tâm ở đâu?
Khi đã hiểu tâm là gì rồi, hẳn ai cũng muốn biết vậy tâm nằm ở đâu trong cơ thể chúng ta? 
Vì muốn biết nơi chốn trú ngụ của tâm, cho nên ngài Tôn giả A Nan đã hỏi Đức Phật về vấn đề này. Ngài A Nan nêu ra bảy nơi: “Tâm ở trong thân, ở ngoài thân, tâm ẩn trong con mắt, trở lại cho tâm ở trong thân, tâm tùy chỗ hòa hợp, tâm ở chính giữa, cuối cùng, Ngài cho chỗ không dính mắc đó là tâm”. Cứ mỗi lần Ngài nêu ra mỗi nơi, tất cả đều bị Phật bác hết.
Như vậy, chân tâm là một thực thể thanh tịnh sáng suốt hằng hữu. Vì nó vốn không có hình tướng, giống như hư không, nên bất sanh bất diệt. Một thực thể bao trùm như vậy, thì làm gì có chỗ mà đi tìm. Tâm vọng (như yêu ghét, phải trái, tốt xấu…) thì có bóng dáng hình tướng, còn chân tâm (sự nhận biết không theo vọng tâm) thì không có hình tướng. Kinh Lăng Nghiêm có đoạn Phật dạy Tôn giả A Nan: “Nhược ly tiền trần hữu phân biệt tánh, tức chơn nhữ tâm”. Nghĩa là, nếu rời cảnh vật trước mắt, mà cái suy nghĩ phân biệt nầy vẫn còn, thì mới thật là chơn tâm của ông.
Một thực thể không hình, không tướng, không sanh, không diệt và vượt ra ngoài đối đãi nhị nguyên như thế, thì làm gì có nơi chốn mà hỏi tâm ở đâu.
Rốt cục tâm nằm bên trong hay bên ngoài thân thể? Tâm nằm ở giữa thân thể và thế giới bên ngoài? Cơ bản, kinh phật cho rằng tâm là vô trụ. Nói cách khác, chúng ta không thể nói tâm nằm bên trong thân thể, cũng không thể nói tâm nằm ngoài thân thể, mà cũng không thể nói tâm nằm ở giữa thân thể và thế giới bên ngoài. Tâm không hề có một vị trí cố định nào cả.
Đạo Phật quan niệm “Tâm vô trụ”, có nghĩa là nó không có một nơi trú ngụ nhất định, nó ở khắp nơi, cả trong và ngoài cơ thể. Cũng có thể hiểu rằng, tâm vô trụ là tâm không trụ, không vướng bận ở thành bại, tập tục, giới luật, định kiến, cũng không vướng bận ở những vui buồn, hờn ghen. Tâm không vướng bận ở cái gì, cho nên gọi là tâm vô trụ.
Học sĩ Tô Đông Pha(6) có bốn câu thơ rất hay, cũng dựa trên tinh  thần đó:
Phong lai sơ trúc, phong khứ nhi trúc bất lưu thanh
Nhạn quá hàn đàm, nhạn khứ nhi đàm vô lưu ảnh.
Thị cố quân tử sự lai nhi tâm thỉ hiện
Sự khứ nhi tâm tùy không
(Gió qua lay trúc, gió đi rồi trúc không giữ âm thanh
Nhạn lướt mặt hồ, nhạn đi rồi hồ không lưu hình ảnh
Người quân tử cũng vậy, việc xảy ra tâm mới tiếp xử 
Việc qua rồi, tâm lại thảnh thơi)

Trên thực tế, cái tâm nằm trong mỗi suy nghĩ và hành động của chúng ta, nó ở mọi lúc mọi nơi mà không hề cố định. Cuộc sống có nhiều sự việc liên quan đến cái tâm, khiến cho chúng ta không khỏi suy ngẫm. Chẳng hạn như “câu chuyện về hai hòn đá” dưới đây.

“Sơn là lái xe chở hàng hóa. Hôm nay, xe đang bon bon chạy trên đường bỗng nhiên "khực" một tiếng rồi dừng lại. Hỏng rồi! Sơn xuống xe đến bên vệ đường vác hai hòn đá to chặn bánh sau lại rồi chui vào gầm sửa xe. Khoảng hơn hai tiếng đồng hồ thì xong. Sơn lên xe nổ máy chuẩn bị đi tiếp.

Đúng lúc đó có một ông lão chăn bò bên cạnh đường chạy đến đập đập tay vào cửa xe, nói rất to: 

- Này anh lái xe, anh đánh rơi đồ kìa!

Ông lão vừa nói vừa chỉ chỉ về phía sau xe. Sơn đoán ông lão nhắc đến hai hòn đá chặn bánh sau xe mà mình vác ra lúc nãy, liền toét miệng cười, đoạn cố ý nhấn ga cho xe chạy.

Ông lão vừa đuổi theo vừa quát to: 

- Anh làm người như thế à? Làm người phải có lương tâm chứ? Anh bỏ hai hòn đá to ở trên đường để cho người ta vấp phải thì sao?...

Bỏ lại lời trách cứ của ông lão chăn bò cùng đám bụi phía sau xe, Sơn cười thầm trong bụng và cho rằng ông già kia lẩn thẩn. 

Chạy hơn trăm cây số vào thành phố, đến trạm kiểm tra của cảnh sát, Sơn hết sờ túi này lại nắn túi nọ, tìm mãi không thấy giấy phép lái xe đâu. Anh ta thừ người ra: Giấy phép lái xe rõ ràng là để trong chiếc ví da lúc nào cũng mang trong người, vậy sao lại tìm không thấy? Cẩn thận nhớ lại, Sơn mới chắc là chiếc ví da đã bị rơi khi mình chui vào gầm xe sửa chữa. Đành phải để xe lại trạm cảnh sát, Sơn vội vã vẫy taxi quay lại chỗ sửa xe.

Khi quay lại chỗ sửa xe ban sáng, Sơn tìm khắp nơi không thấy cái ví lẫn ông lão chăn bò đâu. Hai hòn đá chặn bánh xe đã được ai đó khuân vào để bên vệ đường. Trên hòn đá thấy dán mảnh giấy có mấy chữ xiêu xiêu vẹo vẹo: "Muốn lấy lại giấy tờ thì phải vác hòn đá này lên trên đồi".

Trời đất! Hòn đá vừa to vừa nặng, ngọn đồi trước mặt lại vừa cao vừa dốc, vác hòn đá này liệu có bò lên được trên đó không? Sơn kêu to lên: "Đừng bắt ép người ta như thế! Cần bao nhiêu tiền cứ ra giá đi!".

Khi Sơn vác hòn đá đến chân đồi thì thấy một cái mũ lá có kẹp một tờ giấy viết mấy chữ: "Đừng nói đến tiền, xin mời lên đồi". Sơn tiếp tục đi, được một đoạn lại thấy cái mũ lá cũng có tờ giấy yêu cầu Sơn cứ vác đá lên đồi, các chuyện khác miễn bàn. Không còn cách nào khác, Sơn đành phải bê hòn đá vất vả từng bước bò lên.

Lên được đỉnh đồi thật không dễ gì. Vậy mà trên đó không thấy có người cũng không thấy giấy tờ lái xe, chỉ thấy có tờ giấy dán trên một thân cây yêu cầu Sơn vác hòn đá theo hướng chỉ dẫn đi xuống phía dưới.

Xuống được dưới chân đồi vẫn không thấy giấy tờ, ngoài một tờ giấy yêu cầu Sơn vác hòn đá đi ngược trở lên. Cứ như thế theo hướng chỉ dẫn trên các tờ giấy, Sơn vác hòn đá đi qua mấy quả đồi nhỏ, mệt tưởng chết, cuối cùng mới thấy cái ví da của mình đặt trên một nấm mồ đất trơ trọi.

Giấy tờ đủ cả, tiền bạc không thiếu một xu.

Dưới cái ví tiền còn có một tờ giấy viết:

"Cái ví này là do tôi nhặt được, bây giờ nó đã trở về với chủ của nó. Anh có biết vì sao tôi lại bắt anh vác hòn đá đi một quãng đường xa đến trước nấm mồ này không? Đây là mộ của con trai tôi. Một đêm hai năm trước, nó đi xe máy về nhà, vấp phải hòn đá của một kẻ nào đó không có lương tâm bỏ ở trên đường, bị ngã mà chết. Tôi đưa anh đến tận mồ của con trai tôi là mong anh hiểu rõ một đạo lý:

"Lương tâm là vô giá, làm người có thể để mất nhiều thứ, nhưng nhất thiết không được để mất lương tâm".

Trong câu chuyện này, cái tâm nằm ở hành động bỏ mặc hai hòn đá giữa đường của anh chàng tên Sơn kia. Việc anh ta để hai hòn đá lại, thì đó là hành động của một người vô tâm, thiếu trách nhiệm đối với xã hội vậy.  

Và đây là một ví dụ khác:

“Một chiếc xe bus chở đầy khách đang chạy trên đường đồi, tài xế là một cô gái xinh đẹp. Trên xe có ba tên du côn, chúng bắt cô lái xe dừng xe và muốn “vui vẻ” với cô. Tất nhiên là cô lái xe kêu cứu, nhưng tất cả hành khách trên xe lúc này vì sợ nên chỉ đáp lại bằng sự im lặng.

Lúc ấy có một người đàn ông trung niên nom yếu ớt tiến lên yêu cầu ba tên du côn dừng tay. Lập tức ông  bị những tên du côn đánh đập thậm tệ. Ông rất giận dữ và lớn tiếng kêu gọi các hành khách khác ngăn hành động man rợ kia lại, nhưng chẳng ai hưởng ứng cả. Và thế là cô lái xe bị ba tên côn đồ lôi vào bụi rậm bên đường.

Một lúc sau, ba tên du côn và cô lái xe tơi tả trở về xe và cô sẵn sàng cầm lái để tiếp tục lên đường.

 - Này ông kia, ông xuống xe đi! - Cô lái xe la lên với người đàn ông vừa tìm cách giúp mình.

 Người đàn ông sững sờ, nói: 

- Cô làm sao thế? Tôi mới vừa tìm cách cứu cô, tôi làm thế là sai à?

- Cứu tôi ư? Ông đã làm gì để cứu tôi chứ? - Cô lái xe vặn lại. 

Đám hành khách bình thản mỉm cười khi nghe lời đối đáp giữa hai người. Người đàn ông lúc này thật sự tức giận. Dù ông đã không có khả năng cứu cô, nhưng ông không nên bị đối xử như thế chứ. Ông từ chối xuống xe, và nói: 

- Tôi đã trả tiền đi xe nên tôi có quyền ở lại xe!

Cô lái xe nhăn mặt nói: 

- Nếu ông không xuống, xe sẽ không chạy!

Điều bất ngờ là hành khách, vốn lờ lảng hành động man rợ mới đây của bọn du côn, bỗng nhao nhao đồng lòng yêu cầu người đàn ông xuống xe, họ nói: 

- Ông ra khỏi xe đi, chúng tôi có nhiều công chuyện đang chờ và không thể trì hoãn thêm chút nào nữa!

Một vài hành khách khỏe hơn tìm cách lôi người đàn ông xuống xe. Ba tên du côn mỉm cười với nhau một cách ranh mãnh và bình luận: 

- Chắc tụi mình đã phục vụ cô nàng ra trò đấy nhỉ! 

Sau nhiều lời qua tiếng lại, hành lý của người đàn ông bị ném qua cửa sổ và ông bị đẩy ra khỏi xe. Chiếc xe bus lại khởi tiếp hành trình. 

Xe lên đến đỉnh đồi và chuẩn bị xuống dốc. Phía tay phải xe là một vực thẳm sâu hun hút. Tốc độ của xe bus tăng dần. Gương mặt cô lái xe bình thản, hai bàn tay giữ chặt vô lăng. Nước mắt trào ra trong hai mắt cô. Một tên du côn nhận thấy có gì không ổn, hắn nói với cô lái xe: 

- Chạy chậm thôi, cô định làm gì thế hả?

Tên du côn tìm cách giằng lấy vô lăng, nhưng chiếc xe bus lao ra ngoài vực như mũi tên bật khỏi cây cung. 

Hôm sau, báo địa phương loan tin một tai nạn bi thảm xảy ra ở vùng núi này. Một chiếc xe khách đã rơi xuống vực, tài xế và tất cả hành khách đều thiệt mạng. Người đàn ông đã bị đuổi xuống xe đọc tờ báo và khóc. Không ai biết ông khóc cái gì và vì sao mà khóc!” 

Trong trường hợp này, tâm nằm ở hành động lên tiếng bảo vệ cô lái xe của người đàn ông kia. Cô lái xe biết ơn, đã đuổi ông xuống khỏi xe trước khi lao xe xuống vực sâu. Cả hai người đều đã hành động theo đúng với cái tâm trong con người mình. Rõ ràng là tâm đã được đáp lại bằng tâm vậy.
 Thêm một câu chuyện nữa:
“Vào một đêm muộn đầu xuân, mọi người đều đã ngủ say, có một đôi vợ chồng tuổi đã cao bước vào một khách sạn, đáng buồn thay khách sạn đó đã hết phòng.
Nhân viên lễ tân không đành lòng để cho cặp vợ chồng già lại đi tìm khách sạn, anh ta liền dẫn họ vào một căn phòng và nói:
- Có thể đây không phải là căn phòng tốt nhất, nhưng ít nhất hai bác cũng không phải chạy đi tìm phòng nửa đêm nữa!
Cặp vợ chồng thấy căn phòng được dọn dẹp sạch sẽ nên quyết định ở lại đó.
Hôm sau, khi họ thanh toán tiền thuê phòng, anh nhân viên lễ tân đó liền nói:
- Hai bác không cần thanh toán đâu ạ, vì căn phòng đó là phòng của cháu. Chúc hai bác có một hành trình du lịch vui vẻ ạ!
Thì ra, nhân viên lễ tân đó đã ngủ một đêm tại quầy bàn để nhường phòng cho họ. Cặp vợ chồng hết sức cảm động và nói:
- Chàng trai trẻ à, cậu là nhân viên lễ tân khách sạn tốt nhất mà chúng tôi từng gặp đấy. Cậu nhất định sẽ được đền đáp!
Chàng trai liền cười rồi tiễn cặp vợ chồng ra cửa.
Bỗng có một ngày, anh ta nhận được một bức thư, trong đó có một tấm vé đi du lịch New York một mình, chàng trai đi đến một căn biệt thự trang hoàng theo như chỉ dẫn trong thư. Thì ra, hai người mà anh ta tiếp đón trong đêm muộn hôm đó chính là một nhà tỷ phú cùng với vợ của ông ấy. Ông ấy đã mua tặng chàng trai một tiệm rượu lớn, sau đó giao cho anh quản lý”.
Câu chuyện kết thúc thật có hậu phải không quý vị? Lần này, tâm lại nằm ở hành động nhường phòng cho hai người vợ chồng già nọ của chàng lễ tân.
Vậy thì tâm ở đâu? Theo khoa học thì tâm nằm ở não, tức là nơi khởi phát của nhận thức và lý trí con người. Đạo Phật thì lại cho rằng tâm là do duyên sanh và không có vị trí cố định.
Còn câu trả lời của chúng ta sẽ là: Tâm nằm ở trong mỗi suy nghĩ và hành động của con người, tâm không cố định.
II. Tâm từ đâu sinh ra?
Một điều mà có lẽ không ai trong chúng ta có thể phủ nhận, ấy là tâm con người được di truyền từ đời này sang đời khác. Có nghĩa là một phần bản tính được di truyền từ cha mẹ hoặc dòng tộc. Tuy nhiên trên thực tế, tâm được tạo ra không chỉ là do các yếu tố di truyền. Một phần quan trọng giúp tạo nên cái Tâm của cá nhân nằm ở những trải nghiệm sống, có ảnh hưởng của nền văn hóa và giáo dục của xã hội đó.
Đạo Phật thì vẫn cho rằng tướng của Tâm do duyên tiếp xúc căn trần mà sinh, nên cũng do hết xúc căn trần mà diệt, thí dụ như tâm tham, sân, si, ngã kiến, ngã mạn... có sinh nên phải có diệt.  Tánh của tâm chính là tánh biết, không do tứ đại sinh mà thậm chí còn sinh ra tướng của tứ đại.
Tánh biết này không do duyên sinh vì nó tự có, không do duyên diệt vì nếu diệt thì không thể biết lại ngay. Khi tánh biết bị một trong những tướng ngăn ngại liền trở thành cái biết thì cái biết rơi vào duyên sinh nên cũng có sinh có diệt.
Như vậy tâm có hai phần: Phần tướng ứng ra bên ngoài thì có sinh có diệt, phần tự tánh bên trong thì không sinh không diệt. Ví như sóng và nước, tướng sóng do duyên mà sinh nên có sinh diệt, nhưng tánh nước của sóng thì vẫn là nước.
Khi tánh biết trọn vẹn trong sáng thì tâm trở về trạng thái thanh tịnh nên gọi là tâm bất sinh. Thí dụ như khi tâm không còn các tướng tham sân si thì liền trở về bản chất rỗng lặng trong sáng, tức tất cả tướng đều trở về tự tánh.
Nghiên cứu hiện đại thì lại chỉ ra các yếu tố để hình thành nên cái tâm (cũng có thể hiểu là nhân cách) như sau:

1/Yếu tố bẩm sinh, di truyền (yếu tố tự nhiên)

Có nhiều đặc điểm của nhân cách được di truyền trong đó có thể kể đến:
- Những khía cạnh về tâm thần, thần kinh và hướng ngoại.
- Sự thích nghi với cái mới, sự tận tâm.
- Tính đa cảm, tính năng động và hoà đồng.
Vấn đề không phải là có bao nhiêu đặc điểm được di truyền, mà phải khẳng định là nhân cách (hoặc cái tâm con người) chắc chắn là có yếu tố di truyền. Con người được mặc nhiên thừa hưởng những đặc tính mà thế hệ trước đã để lại.

2/Yếu tố phát triển

Cái tâm của chúng ta tiếp tục thay đổi và phát triển như thế nàoỞ lứa tuổi thiếu niên, cái tâm có khác so với trung niên và tuổi già không? Dĩ nhiên đây là một vấn đề phức tạp, tuy nhiên chúng ta không ngần ngại mà trả lời rằng: Cái tâm con người sẽ phát triển và thay đổi theo thời gian. Có thể bản chất không khác xa nhau là mấy, nhưng tính chất nhất định là phải thay đổi.
 Cái tâm con người ở tuổi trưởng thành dĩ nhiên là sẽ khác so với tuổi ấu thơ. Điều đó được bắt nguồn từ những ảnh hưởng môi trường và xã hội, trong đó có khả năng tự thích nghi của mỗi cá nhân. Ở tuổi trưởng thành, cái tôi con người đã được xác lập bền vững, vì vậy mà nhận thức của họ về các giá trị cuộc sống cũng ở một mức độ tương đối thấu triệt.

3/Yếu tố môi trường

Môi trường ở đây là tất cả những nơi mà con người sinh sống, gồm: Gia đình, trường học, cơ quan, xã hội…; dĩ nhiên là môi trường đóng vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của nhân cách cũng như tâm lý con người (mà chúng ta gọi là tâm). Vì đó là nơi mà người ta sinh tồn và tham gia tất cả mọi hoạt động xã hội, cho nên tất yếu sẽ tác động đến tâm lý và nhận thức của họ. Môi trường sống đối với con người cũng giống như cái hồ nước đối với con cá vậy. Quan trọng như vậy, thử hỏi làm sao mà không có sự ảnh hưởng và tác động qua lại?

4/Yếu tố giáo dục

Việc học tập đóng vai trò chủ yếu ảnh hưởng đến hầu hết mọi hành vi của con người. Tất cả những ảnh hưởng môi trường và xã hội hình thành nhân cách đều thông qua học tập. Ngay cả những yếu tố được thừa hưởng cũng có thể bị thay đổi bởi quá trình học tập. Lưu ý là việc học tập, giáo dục ở đây không chỉ bó hẹp ở nhà trường, mà trong toàn bộ môi trường xã hội rộng lớn nói chung.

5/Yếu tố ý thức

Cảm giác và ký ức cho phép chúng ta tương tác với thế giới hiện thực khách quan. Thông qua đó có thể lĩnh hội những kích thích, và rồi sau đó hồi tưởng lại hình ảnh về chúng. Con người là những sinh vật có lý tính và ý thức , vì vậy mà có khả năng lập kế hoạch và định hướng cho cuộc sống của mình. Chúng ta có thể xác định kế hoạch cho tương lai, đó chính là việc giải quyết vấn đề một cách có ý thức.
 Vậy ý thức là gì? Đó là một chỉnh thể mang lại chất lượng mới cho thế giới nội tâm của con người. Cấu trúc của ý thức bao gồm ba mặt liên kết hữu cơ với nhau: Mặt nhận thức, mặt thái độ và mặt năng động của ý thức.
 a/Mặt nhận thức bao gồm:
- Các quá trình nhận thức cảm tính mang lại những tài liệu đầu tiên cho ý thức, đó là những hình ảnh trực quan, sinh động về thực tại khách quan.
- Quá trình nhận thức lý tính mang lại cho con người hình ảnh khái quát bản chất về thực tại khách quan và các mối liên hệ có tính quy luật của các sự vật hiện tượng, tạo ra nội dung cơ bản của ý thức, là hạt nhân của ý thức. Các thao tác tư duy như: so sánh, phân tích, tổng hợp cũng là thao tác của ý thức.
b/Mặt thái độ của ý thức:
khi phản ánh thế giới khách quan ở cấp độ ý thức, con người thể hiện thái độ của mình với đối tượng bằng cách: thể hiện cảm xúc, đánh giá và lựa chọn. Thái độ được hình thành trên cơ sở nhận thức thế giới.
 c/Mặt năng động của ý thức:
Ý thức tạo cho con người có khả năng dự kiến trước hoạt động, điều chỉnh hoạt động nhằm thích nghi và cải tạo thế giới khách quan. Ý thức cũng được nảy sinh và phát triển trong quá trình hoạt động. Vì thế mà cấu trúc của hoạt động quy định cấu trúc của ý thức con người.
Hỏi Tâm con người xuất phát từ đâu, cũng giống như khi hỏi Đạo ở đâu vậy. Đạo chẳng ở đâu xa, đạo chính ở tại tâm, mà tâm thì có sẵn ở trong mỗi con người chúng ta.
Đạo chẳng đâu xa, ở tại người
Lương tâm thiện tánh sẵn trong ngươi
Tu tâm dưỡng tánh đừng phai lợt
Phản chiếu hồi quang Đạo sáng ngời.
Mặc dù được tiếp nhận và hoàn thiện bởi môi trường bên ngoài, nhưng Tâm của con người thuộc về tiên nghiệm chứ không thuộc về hậu nghiệm.

Bài đăng phổ biến từ blog này

TÂM ĐẠO (Lời Dẫn)

TÂM ĐẠO (Chương III)