TÂM ĐẠO (Chương VI)

 NỀN TẢNG CỦA MỘT XÃ HỘI LÝ TƯỞNG

Người ta ai cũng sẽ cảm thấy hạnh phúc và an toàn khi được sống bên cạnh một người tốt. Cho nên người có tâm thì luôn được kẻ yêu người mến là vì vậy. Họ cảm hóa và cải tạo mọi thứ, để cho môi trường sống quanh mình ngày một trở nên tốt đẹp hơn lên.
Người có tâm yêu thương con người, biết tôn trọng luật lệ và sống vì cộng đồng. Đó là hình mẫu công dân đáng mơ ước của một xã hội lý tưởng. Một xã hội mà tập hợp những con người như vậy thì thật là tốt đẹp và hạnh phúc biết bao.
Việc cá nhân tự rèn luyện cho bản thân cái Tâm tốt là điều rất cần thiết để tạo nên một xã hội lý tưởng. Để khỏi ngộ nhận, phải khẳng định ngay rằng, sẽ chẳng có xã hội lý tưởng (hay bất cứ giá trị lý tưởng) nào cả, hàm ý ở đây là để chỉ một xã hội tốt đẹp, mà ở đó các quyền con người được tôn trọng, những nhu cầu thiết yếu của con người được đáp ứng đầy đủ. Tóm lại là một xã hội tự do, dân chủ, công bằng, bác ái.
Thời kỳ Phong Kiến trở về trước, mỗi thời đại đều có những mẫu người tiêu biểu làm đại diện. Mẫu người trung tâm trong xã hội Hy Lạp, La Mã cổ đại là lớp người thông thái, những nhà chính trị tài năng. Hoặc như ở xã hội phong kiến phương Đông thì đó là những nhà nho (kẻ sĩ) và người quân tử. Có thể hiểu “quân tử” là người có địa vị hoặc nhân cách, có vai trò lớn trong xã hội. Còn như kẻ sĩ thì vừa là người có nhân cách, vừa có tri thức cao.

Để duy trì sự ổn định của một xã hội thì người ta phải sử dụng đến luật pháp, nhưng không thể thiếu vắng đi các giá trị đạo đức con người. Gốc rễ của cuộc sống là sự nhân bản, vì đó là mục tiêu xây dựng của xã hội. Một hệ thống pháp luật công bằng và tiến bộ để tạo nên những con người nhân bản, đó là mô hình của một xã hội lý tưởng. Pháp luật là cần thiết, nhưng nền tảng của nó là những con người bác ái. Một khi đã là những con người nhân bản, người ta sẽ tự giác không làm điều xấu tổn hại đến cá nhân hoặc cộng đồng, xã hội vì thế mà trở nên tốt đẹp và thịnh vượng.
Các nhà tư tưởng vẫn quan niệm, đạo đức chính là cái tâm thiện của con người. Triết gia Platon cho rằng đạo đức là sống đúng với các giá trị của cái thiện, và Aristote cũng có cùng quan điểm như vậy. Có lẽ đây là quan điểm cốt lõi và bền vững nhất, vì cùng với thời gian, các giá trị đạo đức cũng được hiểu và áp dụng khác nhau. Tuy nhiên, khái niệm đạo đức trong các nền văn hoá có khá nhiều điểm tương đồng. Đó là việc con người hoàn thiện và phát huy những đức tính tốt để hướng tới cái thiện. Từ đạo đức cá nhân sẽ tạo nên đạo đức xã hội, và từ một xã hội có đạo đức là một xã hội hạnh phúc. Một xã hội mà con người đối xử bình đẳng, chân thành và tôn trọng lẫn nhau thì đó là văn minh, tiến bộ. Cũng có thể hiểu đó là một xã hội đạt đến các giá trị chân, thiện, mĩ - xã hội lý tưởng của con người. Trái ngược với đó là một xã hội lạc hậu và dã man.
Mấy ngàn năm trước, Trung Quốc là một vùng đất của nhiều quốc gia riêng biệt. Những quốc gia này cạnh tranh nhau phát triển, để có thể xưng bá thiên hạ. Vì thế mà các vị quân vương cũng như những nhà tư tưởng đã không ngừng thử nghiệm hệ thống pháp luật và phương pháp cai trị đất nước. Mục tiêu là để tìm đến một mô hình nhà nước lý tưởng của thời kỳ đó: Một đất nước hùng mạnh và được lòng dân.
Một số quan điểm về xã hội lý tưởng
I. Quan điểm của Nho Giáo

Trong một bối cảnh mà quốc gia thường bị rối loạn bởi chiến tranh và những xung đột giai cấp, Nho Giáo – Với tư cách là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị - luôn hướng tới mục tiêu xây dựng một xã hội ổn định, để mọi người trong thiên hạ đều được sống hòa mục, bình đẳng với nhau. Nho giáo còn quan niệm rằng, xã hội lý tưởng là một xã hội mà ở đó có vua thánh, tôi hiền, dân chúng thì được sống trong ấm no, hòa bình, yên ổn.

Trong sách Lễ ký, Khổng Tử có nói: "Sự thực hiện của đạo lớn là, thiên hạ là của chung, tuyển chọn người hiền và cử người tài năng, nói điều tín và tu sửa hòa mục. Cho nên người ta không chỉ tôn kính cha mẹ mình, không chỉ thương yêu con cái mình, còn khiến cho người già được sống trọn đời, người trai tráng được sử dụng, trẻ thơ được lớn lên, người không vợ, người không chồng, trẻ mồ côi, người không con người tàn tật, tất cả đều được chăm sóc".

Rõ ràng, đó chính là mơ ước của Khổng Tử về một xã hội lý tưởng theo quan niệm của Nho Giáo.

Theo quan niệm của các nhà Nho, xã hội lý tưởng phải là một xã hội mà ở đó, đứng đầu nhà nước là Thiên tử (người có uy quyền cao nhất), dưới Thiên Tử là các chư hầu, dưới chư hầu là các quan đại phu, dưới quan đại phu là thần dân trong thiên hạ. Xã hội đó phải luôn phải được đặt trong vòng trật tự có lợi cho giai cấp thống trị.  

Nho giáo coi Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín là những phẩm chất đạo đức mà con người cần tu dưỡng, song cũng đề cập đến những vấn đề lợi ích vật chất. Khổng Tử cho rằng: "Giàu với sang, ai lại chẳng muốn? Nhưng nếu chẳng phải đạo mà được giàu sang, thì người quân tử chẳng thèm. Nghèo với hèn, ai mà chẳng ghét? Nhưng nếu chúng nó đến với mình mà mình chẳng lỗi đạo thì người quân tứ chẳng từ bỏ. Còn Mạnh Tử(8) thì nói: "Đấng minh quân chế định điền sản mà chia cho dân cùng cày cấy cốt khiến cho họ trên đủ phụng dưỡng mẹ cha, dưới đủ nuôi dưỡng vợ con, nhằm năm trúng mùa thì mãi no đủ, phải năm thắt ngặt thì khỏi nạn chết đói. Được vậy rồi, nhà Vua mới khiến dân làm thiện. Tự nhiên họ sẽ theo điều thiện một cách dễ dàng”.

Tóm lại, theo quan niệm của Nho Giáo, xã hội lý tưởng phải bảo đảm được sự hài hòa giữa đời sống kinh tế và đời sống tinh thần, cũng như đạo đức cá nhân lành mạnh.  

II. Quan điểm của triết gia Aristotle

Sinh thời, Aristotle có nói một câu nổi tiếng: “Con người là một sinh vật mang tính chính trị”. Nghĩa là, con người khác với con vật ở chỗ có thể ý thức được vai trò của mình trong cộng đồng. Loài vật giao tiếp với nhau theo bản năng, còn con người tương tác với nhau là do ý thức. Tính ý thức ấy chính là tính chính trị mà Aristotle muốn đề cập tới. Aristotle cổ vũ cho các công dân tự do, biết tư duy, chứ không phải những cá nhân chỉ biết nô lệ và tuân theo hệ thống. Ông cho rằng, con người không thể tách khỏi cộng đồng người, không có nghĩa rằng cộng đồng có quyền áp đặt cho từng cá nhân. Quan điểm này thực sự tiến bộ, phù hợp với ngay cả chế độ dân chủ của thời đại ngày nay. Aristotle cũng đặt ra một vấn đề gây nhiều tranh cãi: Một người dân tốt liệu có phải là một công dân tốt hay không? Ông khẳng định hai việc này rất khác nhau. Công dân có trách nhiệm giữ cho xã hội được an toàn, vận hành tốt, giống như người thủy thủ có trách nhiệm giữ cho con tàu phải giữ đúng hải trình và cập bến an toàn. Nên người công dân tốt không nhất thiết phải có đức tính tốt. Nhưng tất cả mọi người nếu là công dân tốt thì nhà nước đó là tuyệt hảo. Tục ngữ cổ Hy Lạp có câu: “Kẻ nào chưa từng vâng lời, không thể trở thành một người chỉ huy giỏi”. Đó là khi “biết cách cai trị như một người tự do và biết cách vâng lời như một người tự do”. Điều này đúng với mọi kẻ mong muốn mình trở thành kẻ cai trị vĩ đại. Bởi không biết tuân phục thì không có cái nhìn bên trong của hệ thống, và bởi thế không hiểu về hệ thống đủ để thay đổi nó. Để trở thành một lãnh đạo giỏi, cần có cả hai đức tính: công dân tốt và người tốt.
Khi đề cập đến một xã hội lý tưởngAristotle cho rằng:
“Những ai muốn tìm hiểu mô hình chính quyền nào là mô hình tốt đẹp nhất, trước hết phải xác định xem một cuộc đời đáng sống nhất là một đời sống như thế nào. Khi ta còn chưa biết chắc về điều này, thì ta cũng không biết chắc được cái mô hình chính quyền nào là tốt đẹp nhất. Tuy nhiên trong trật tự của thiên nhiên, ta có thể đoán được những người sống một đời sống tốt đẹp là những người được sống trong một chính thể tốt đẹp nhất mà hoàn cảnh cho phép. Do đó, trước hết, ta nên xác định thế nào là một cuộc đời đáng sống, và xem xét một đời sống như vậy có phải là một đời sốn tốt đẹp nhất cho cả cá nhân và chế độ hay không?”
Theo Aristotle, những người độc ác và tham lam thì không thể có cuộc sống hạnh phúc. Chỉ những người có đức hạnh (tức là những người có đời sống tinh thần cao) mới có được hạnh phúc. Vậy thì, một xã hội được gọi là lý tưởng là xã hội đạt tới các đức hạnh tinh thần và người dân có đầy đủ điều kiện để thực hiện những đức hạnh đó.
III. Quan điểm của Platon
Trong cuốn Luật pháp, Platon đã miêu tả một xã hội tươi vui và trình bày hoạt động của nó trong cuốn Cộng hòa.
Xã hội của Platon được chia thành ba tầng cao nhất là các "nhà triết học" có nhiệm vụ đảm bảo sự liên kết của Nhà nước và đưa ra các qui định. (Thành phố lý tưởng vì không bị vấp phải những tình huống bất ngờ và thói trái tính trái nết của lịch sử nên không cần đến một chính phủ mạnh. Trong các chủ nghĩa không tưởng cực đoan hơn xuất hiện sau này, chính phủ sẽ teo đi và biến mất. Thành phố tự điều khiển, lặp lại những động tác giống hệt nhau. Vũ trụ cũng chẳng cần ai điều khiển. Nó tự quay và không bao giờ trục trặc).
Các đề án của Platon đã không trở thành hiện thực. Tên độc tài Denys II ở thành Syracuse bỏ ngoài tai lời khuyên của Platon. Dẫu sao, nghề triết học do Platon khởi đầu vẫn có một đội ngũ hậu sinh đông đảo, cho đến tận Thomas More, Etienne Cabet và Robert Owen.
Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà tư tưởng khác đã dựng lên những thành phố lý tưởng. Triết gia theo chủ nghĩa khắc kỷ Iamboulos vẽ ra 7 "Hòn đảo hạnh phúc". Nhưng những hòn đảo mà không có gì hấp dẫn. Nếu như ta lạc vào đấy, ta sẽ chỉ có một ý muốn duy nhất là chạy ra bờ biển và chạy trốn khỏi đảo. Dân cư trên mỗi đảo được chia thành từng nhóm 400 người một. Việc sinh con đẻ cái và giáo dục chúng do Nhà nước quản lý nhằm đảm bảo sự công bằng vật chất cho mọi đứa trẻ. Mọi công dân đều giống nhau, khó phân biệt được người này với người khác. Sự bình đẳng trí tuệ và tinh thần được đảm bảo nhờ những thời gian biểu làm việc đơn điệu, lặp đi, lặp lại không ngừng.
Trung cổ phát minh tu viện, nhà dòng và trường dòng, như những đảo nhỏ yên bình, những xã hội hài hòa và bất động giữa sự xáo động của cuộc đời trân thế. Platon mê say những xã hội như vậy: không còn gia đình, không còn cá nhân, cả đến tên tuổi  của thầy tu cũng bị xóa. Quy tắc của Thánh Benoit hoàn hảo và nghiêm khắc đến mức các linh mục trưởng tu viện hay các đấng bề trên chỉ còn mỗi nhiệm vụ là quản lý sự bất động, sự lặp đi lặp lại tẻ nhạt và sung sướng những thủ tục không đổi. Đó là sự thành công tuyệt đẹp, một trong những thành công hiếm hoi của chủ nghĩa không tưởng. Thành công của việc này là do tu viện xây dựng các kiến trúc đẹp đẽ của mình trong các lĩnh vực vĩnh hằng chứ không phải trong các lĩnh vực lịch sử.
Chủ nghĩa không tưởng của Platon dựa trên một mô hình vũ trụ, và ngầm phỏng theo một mô hình khác là tổ kiến. Các nhà không tưởng đông lên nhiều sau thời Phục hưng, có một mô hình nuôi dưỡng những hoang tưởng duy lý của họ: đó là chiếc đồng hồ.
Từ quan điểm của các triết gia nói trên, chúng ta có thể đi đến kết luận:

Muốn có một xã hội lý tưởng thì phải có một chế độ chính trị lý tưởng, mà nền tảng của nó là những công dân tốt. Con người là hạt nhân để cấu thành xã hội, và cũng là mục tiêu phục vụ mà nhà nước hướng tới. Cho nên, xây dựng và phát triển xã hội, cũng chính là xây dựng và phát triển con người. Xã hội được cấu thành bởi tập hợp những cá nhân. Khi mỗi cá nhân tự rèn luyện cho mình một cái tâm tốt và hướng thiện thì đó là nền tảng quan trọng của một xã hội lý tưởng cần phải hướng tới. Nếu trên đời này mọi người đều có Tâm lành, Tâm thiện, và ai cũng có ý thức nói điều hay, làm việc tốt thì làm gì còn có những hành vi phạm pháp, bạo lực nữa.

Bài đăng phổ biến từ blog này

TÂM ĐẠO (Chương III)

TÂM ĐẠO (Chương II)

TÂM ĐẠO (Chương VII)