TÂM ĐẠO (Chương V)
ĐỨC NĂNG THẮNG SỐ
Con người sinh ra ở trên đời, mỗi người có một số phận, và cũng không ai giống ai cả. Vì vậy mà người này gặp hoàn cảnh thuận lợi, người kia lại gặp hoàn cảnh khó khăn, âu đó cũng là lẽ thường tình. Điều quan trọng là người ta có biết cải tạo hoàn cảnh, để biến cái khó khăn trở thành thuận lợi cho mình hay không? Đứng trước sự ngang trái, người lạc quan thì chiến đấu với nó để vượt lên, kẻ bi quan thì buông xuôi để rồi bị số phận đè bẹp.
Cổ nhân có câu: "Đức năng thắng số", nghĩa là phúc đức chiến thắng số mệnh. Chính là việc người ta sử dụng cái đức của mình để cải tạo hoàn cảnh vậy. Điều này thì trong cuộc sống chúng ta cũng đã được chứng kiến nhiều. "Đức năng" ở đây là chỉ sự đức độ và tình yêu thương con người.
Dưới đây là một câu chuyện về “Đức năng thắng số”:
Có Đức mà không có tài vẫn làm nên đại sự
“Triệu Hùng từ lúc sinh ra đã chất phác phúc hậu, nhưng không được thông minh lanh lợi. Cha mẹ ông cho rằng người như ông chắc chỉ biết một ít chữ nghĩa mà thôi. Đối với những điển cố mà các vị tiên sinh giảng nói, Triệu Hùng không nhớ bao nhiêu, chỉ nhớ rõ ràng một câu chuyện thôi:
Chuyện kể rằng Vương Tằng có một người cha cả đời rất kính trọng con chữ, thường xuyên tích Đức làm việc thiện, một ngày nằm mộng thấy Khổng Tử nói với ông: “Ông cả đời kính trọng con chữ, tích đức làm việc thiện, âm đức to lớn, nay ban cho ông một đứa quý tử”. Quả nhiên chẳng bao lâu sau sinh ra Vương Tằng, lớn lên thi đỗ Tam Nguyên (đỗ đầu ba kỳ thi liên tiếp trong chế độ khoa cử thời phong kiến).
Triệu Hùng nghĩ thầm: “Mình cả đời ngu dốt, hơn nữa cha mẹ mình cũng không quý trọng con chữ, không làm việc thiện tích Đức. Từ nay về sau mình nhất định cần phải làm nhiều việc thiện”. Quả nhiên thiện niệm thành kính sẽ có báo ứng, văn chương của ông càng lúc càng hay, hoàn toàn khác hẳn trước kia. Một ngày, Triệu Hùng muốn tới Lâm An thi cử, xung quanh có người cười nhạo, ông cũng không tranh luận gì.
Trên đường đi thi, một ngày nọ ông gặp trong rừng một bộ hài cốt nằm phơi trên mặt đất. Ông nghĩ đến chuyện Văn Vương thời Tây Chu gặp bộ xương khô liền mai táng. Thế là gọi người hầu mượn một cái cuốc, rồi chủ và tớ cùng chôn cất bộ hài cốt ấy.
Sau khi thi xong, lúc yết bảng, Triệu Hùng đỗ cử nhân. Đến lúc thi Hội, thí sinh khắp cả nước ùn ùn kéo đến, Triệu Hùng nghĩ: “Trình độ của mình như thế đỗ cử nhân đã là may rồi, tham gia thi Hội làm gì?”.
Không muốn tới trường thi, nhờ có người hầu một lòng khuyến khích mới miễn cưỡng đi thi. Đang trong lúc thi, bất ngờ người thí sinh ở sát vách đột nhiên phát bệnh, không ngừng kêu lớn, nhưng chỉ có Triệu Hùng vội vàng tới trấn an và chăm sóc.
Xong rồi vội vã trở về làm bài, không ngờ vị quan giám khảo lại cho rằng bài thi rất có phong thái, vào ngày yết bảng thì kết quả đỗ khá cao. Vào ngày thi Đình, Triệu Hùng tự nhiên nhớ lại mấy bài văn sách trước kia từng đọc, văn chương cũng tuôn trào lai láng, cuối cùng thi đỗ thứ năm.
Tin tức truyền về tới quê nhà, cha mẹ và đồng hương đều giật mình, mọi người bàn luận với nhau, bảo rằng: “Xem ra văn chương của Triệu Hùng vốn là hay, chúng ta đều không nhận thấy. Ngày hôm nay đến đất kinh thành mới gặp người nhận ra tài năng đó”. Mọi người đều biết quan coi thi đều tuyển chọn người làm bài tốt, nhưng chẳng biết âm thầm đã có Thần linh quyết định, đó đều là do vận mệnh và Đức hạnh của người thí sinh mà ra.
Triệu Hùng đầu tiên nhậm chức Huyện úy, sau này thăng lên tới Thái thú Tây Thục. Biết quan tước của mình đều là từ Đức mà có được, ông chẳng hề dám làm một việc xấu ác nào, mà khiêm tốn xin người tài giỏi chỉ dạy, chọn dùng người hiền tài, không ăn hối lộ, dẫn người đi xây dựng đê điều, khiến cho trăm họ được an vui.
Ông ở quận Thục 5 năm, làm không biết bao nhiêu việc tốt cho trăm họ. Khi đó Hoàng đế Hiếu Tông trị vì rất nghiêm khắc, Tây Thục cách kinh thành không xa, muốn gọi Triệu Hùng tới gặp. Hiếu Tông trọng người có đức có tài, nhưng bất kể là người nhờ khoa cử hay nhờ Đức hạnh mà được tiến cử, Hiếu Tông đều muốn thử tài đối đáp, hoặc là hỏi chuyện Thánh hiền, hoặc hỏi những sự việc về học vấn từ cổ chí kim, nếu trả lời được mới cho nhậm chức.
Thời đó có một người tài hoa nổi tiếng tên là Chân Long Hữu được người ta tiến cử. Hiếu Tông cho gọi vào, hỏi:
- Khanh tên là Long Hữu, có nghĩa như thế nào?
Chân Long Hữu ngày thường thông minh hơn người, rất giỏi ăn nói, văn chương lai láng, nhưng lúc ấy tại điện Kim Loan không đáp được một câu nào. Hiếu Tông thấy ông ta không nói nửa lời, đành phải hỏi lại:
- Khanh tên Long Hữu, chắc chắn là có ý nghĩa riêng, có thể trình bày ra.
Chân Long Hữu làm thế nào cũng nghĩ không ra, cổ họng dường như cũng tắc nghẹn không nói được nên lời. Hiếu Tông hỏi cả hai lần đều không hề thấy trả lời. Quan hầu hai bên đồng loạt thúc giục, Chân Long Hữu vẫn không nói được. Hiếu Tông thấy một câu cũng không đáp nổi, bèn lệnh cho quan hầu đưa ông ta ra ngoài cửa.
Vừa mới bước ra khỏi cửa, Chân Long Hữu lập tức bừng tỉnh nghĩ ra ngay, miệng cũng không tắc nữa, chán nản hối hận nói:
- Thần mong bệ hạ làm một vị minh quân như Nghiêu Thuấn, thần sẽ được cùng Quỳ, Long làm bạn hữu.
(Quỳ là một con vật theo truyền thuyết, hình dạng giống như con rồng, chỉ có một chân). Một câu như thế có gì khó đáp đâu? Thật khiến cho người ta xấu hổ”. Không thể không tin là do vận mệnh xui khiến.
Triệu Hùng nhậm chức mãn hạn về kinh đô, thấy chuyện Chân Long Hữu đối đáp không thành, nghĩ thầm: “Chân Long Hữu là người tài hoa bậc nhất, hỏi một đáp mười, vậy mà trước mặt Hoàng đế một tiếng cũng nói không nên lời, còn mình ít học kém tài, ăn nói lại không linh lợi, bây giờ làm sao trả lời đây?”.
Mặc xong y phục chỉnh tề, thấy còn sớm quá, thế là nằm gục trên bàn ngủ thiếp đi. Trong cơn mơ một vị thần hạ xuống, trên người choàng long bào, dây lưng bằng bạch ngọc, eo mang ngọc ấn, còn có hai tùy tùng theo sau, Triệu Hùng vội vàng vái chào. Vị Thần xưng là Văn Xương Đế Quân, nói:
- Thượng Đế thấy ngươi kính trọng chữ viết, làm việc thiện tích Đức, làm quan thương dân, từ bi với loài vật, ngày hôm nay đặc biệt phù hộ cho ngươi. Ngươi vào triều, Hoàng đế sẽ hỏi: “Khanh từ Hiệp Trung đến ư? Phong cảnh như thế nào?”, ngươi chỉ cần đáp: “lưỡng biên sơn mộc hợp,chung nhật tử quy đề” (Tạm dịch: Cây cối hai bên núi chụm lại, chim Cuốc kêu hót suốt ngày).
Nói xong, cùng với hai đồng tử cưỡi mây bay đi. Triệu Hùng bừng tỉnh, nhìn trời bái lạy, mơ hồ tưởng như là thật. Lúc vào triều, Triệu Hùng bái kiến, Hiếu Tông quả nhiên hỏi:
- Khanh từ Hiệp Trung đến ư? Phong cảnh như thế nào?
Triệu Hùng vội vàng đáp:
- Lưỡng biên sơn mộc hợp,chung nhật tử quy đề.
Hiếu Tông nghe xong rất vui, gật đầu hài lòng mãi.
Sau đó, Hiếu Tông nói với Tể tướng Giang Ngọc Sơn:
- Hôm qua Trưởng quận Thục tên là Triệu Hùng vào triều đối đáp, Trẫm hỏi xem Hiệp Trung phong cảnh như thế nào, ông ta tụng hai câu thơ thể Đỗ mà đối, cảnh đẹp Tam Hiệp tựa như hiện ra trước mắt, có thể nói là giỏi ngôn từ thơ văn. Có thể cho nhậm chức quan Tự thừa, Tự bộ được.
Uông Ngọc Sơn ra khỏi triều đến nói với Triệu Hùng:
- Ông đối hai câu thơ Đỗ ấy thật là hay, thật sự là tài trí thông minh linh lợi.
Triệu Hùng thế là đem chuyện vì mình trân trọng dân chúng, tích Đức làm việc thiện khiến Văn Xương Đế Quân cảm động và phù hộ nói hết cả ra.
Uông Ngọc Sơn nói:
- Thì ra sự việc là như thế! Hôm nay Thánh thượng muốn cho ông làm quan Tự thừa, Tự bộ. Nếu ông làm chức quan ấy, thỉnh thoảng được triệu vào gặp Vua, nếu lại bị hỏi đối đáp, ông làm sao đối lại được. Hay là trở về quận Thục vậy.
Triệu Hùng đồng ý. Ngày hôm sau, Uông Ngọc Sơn vào triều tâu:
- Thần hôm qua đã truyền lời của Hoàng thượng, ông ta không muốn ở lại triều đình.
Hiếu Tông nói:
- Người này điềm đạm từ chối như thế, chắc chắn là người có khả năng. Có thể cho ông ta làm quan Tiết hiến sứ.
Thế là hạ lệnh phê chuẩn cho Triệu Hùng làm Tiết hiến sứ. Vài năm sau ông dần dần được thăng đến chức Tể tướng, Triệu Hùng vẫn nghĩ mình ít học kém tài, cứ liên tục từ chức Tể tướng. Hiếu Tông thấy thế càng không cho ông ta từ chức.
Một ngày, Triệu Hùng đang trên đường vào triều, gặp một vị Thái thú họ Tức đang nói chuyện với các quan trông coi cửa thành. Các quan trông cửa thành hỏi vị Thái thú:
- Ông làm sao lại mang cái họ kỳ quái như thế?.
Tức Thái thú đáp:
- Thời Xuân Thu có người tên là Tức Quy, thời Hán có người tên là Tức Phu Cung, luôn luôn tồn tại họ Tức này, sao lại nói là kỳ quái?
Triệu Hùng ngẫu nhiên nghe được, bèn ghi nhớ trong lòng. Khi Tức Thái thú vào triều sau đó, ngay lúc Triệu Hùng đang tấu trình chính sự. Hiếu Tông hỏi:
- Vừa mới có một quan Thái thú họ Tức vào triều, trên đời sao lại có họ quái dị này?.
Triệu Hùng liền tâu:
Triệu Hùng liền tâu:
- Thời Xuân Thu có người tên là Tức Quy, thời Hán có người tên là Tức Phu Cung, họ này đã có từ xưa tới nay, cũng không quái dị.
Hiếu Tông rất vui vẻ, nói:
- Khanh học vấn uyên bác như thế, thật đúng là “Phong làm Tể tướng cần phải chọn dùng người chuyên đọc sách.
Triệu Hùng bèn nói rõ chính mình cũng vừa mới nghe được, Hiếu Tông càng thích đức tính thành thật của ông. Từ đó về sau, những khi đối đáp, hoặc là có điều gì quan trọng, thì đều có những sự việc báo trước, không hề sai lệch. Triệu Hùng nhậm chức Tể tướng, thường xuyên nhắc nhở Hiếu Tông chớ quên chuyện nhục Tĩnh Khang.
Ông đối xử khoan dung nhân hậu, rất hay tiến cử người tài đức, được người đời ngợi ca. Sau này lúc về già, từ quan rồi lâm chung, mọi người luôn cho rằng ông là người may mắn và hạnh phúc nhất thế gian”.
Đúng như câu: ‘’Đức trọng quỷ thần kinh’’. Người có đạo đức thì khiến cho ma quỷ cũng phải sợ vậy.
Quan niệm về “Đức” của Phật giáo
Đạo Phật cho rằng, người học Phật cũng chính là học đạo đức. Đức trong đạo phật là những hành động thiện, lời nói thiện, suy nghĩ thiện. Đó gọi là "Bi đức". Bi đức là tình thương bao la, cũng như lòng trắc ẩn đối với con người. Trí đức là trí tuệ cao cả không gì sánh bằng. Tịnh đức là dù trước mặt hay sau lưng, tâm vẫn như vậy, không hề thay đổi.
Bi là hài hòa, dễ thương, không ác ý, không ngã mạn, không độc tài. Có bi đức, cuộc sống sẽ an nhiên tự tại và trở nên hạnh phúc.
Tất cả chúng sinh đều có khả năng giác ngộ, cho nên tránh đừng có xúc phạm đến người khác. Có tâm đại bi thì tâm sân si, ghen tức, ngã mạn sẽ lắng dịu. Nếu tâm đại bi không phát triển thì người ta sẽ phải sống trong đau khổ, phiền não.
Quan niệm về “Đức” của một số nhà tư tưởng nổi tiếng.
Các triết gia xem vấn đề trọng tâm của Đạo đức là “the summum bonum”, tạm dịch là “lẽ chí thiện tận mỹ của cuộc đời”. Nó được coi như là chuẩn mực để đánh giá sự đúng sai, tốt xấu ở đời. Một hành vi được xem là đúng đắn khi nó phù hợp với chuẩn mực ấy, và ngược lại.
Khái niệm "Đức" được hiểu là những nhận thức và hành động được thể hiện trong cuộc sống. Qua đó bộc lộ khả năng phân biệt đúng sai của con người.
Người ta cũng phân chia thành “Đạo đức cá nhân” (personal ethics), là những chuẩn chuẩn mực áp dụng cho các cá nhân, và “đạo đức xã hội” (social ethics) vốn liên quan đến các hệ thống luân lý cộng đồng. Đạo đức xã hội được xem là tương đồng với triết học chính trị và xã hội. Ngược lại, đạo đức cá nhân chỉ giới hạn trong thái độ ứng xử của mỗi con người.
+ Socrates (470-399 trước CN) là một triết gia Hy Lạp cổ đại. Ông coi đức hạnh cũng là tri thức của con người. Đối với Socrates, bất cứ ai biết điều gì là đúng đắn tất sẽ thực hiện điều đó. Hành vi sai trái chỉ xuất phát từ sự vô minh. Một người có hành động không đúng bởi vì anh ta không biết cái gì là đúng đắn. Không có một người tỉnh táo và lành mạnh nào lại chủ tâm làm tổn hại bản thân mình. Nếu anh ta thực sự làm một điều như vậy, đơn giản chỉ vì phạm phải sai lầm nào đó trong quá trình hành động, hoàn toàn không phải do cố ý. Không ai chủ định chọn lựa điều sai trái, bởi lẽ hành vị tội lỗi luôn mang đến tai hoạ cho bản thân họ và người khác.
Theo Socrates, đức hạnh không chỉ là tri thức, bản thân nó cũng đồng nghĩa với hạnh phúc. Bởi lẽ, hành vi đạo đức cũng chính là hành vi mang đến những điều tốt đẹp cho người thực hiện nó.
+ Aristotle (384-322 trước CN) - Nhà triết học và bác học Hy Lạp cổ đại. Ông là người đã phát triển một hệ thống tư tưởng đạo đức học được gọi là "Thuyết tự phát triển nhận thức" (Self-Realizationism). Nó được hình thành trên quan niệm cho rằng cuộc sống hạnh phúc là kết quả của sự phát triển toàn mãn năng lực, thiên tư và nhân cách của một con người.
Theo Aristotle, mục đích chính đáng nhất của con người trong đời là nhận thức bản chất thực sự của bản thân một cách toàn diện, phát triển các tiềm năng đó đến độ viên mãn, từ đó tự hoàn thiện chính mình. Người nhận thức và phát huy được bản chất cũng như năng lực của mình thì sẽ có được cuộc sống thỏa nguyện, hạnh phúc.
Aristotle cho rằng, đức hạnh bao gồm nhiều đức tính khác nhau. Mỗi đức tính đại diện cho thái độ trung hòa giữa hai thái cực có liên quan. Ông phân chia đức hạnh làm hai loại:
Loại thứ nhất: Đức hạnh thuộc về lý trí, loại này có thể thu lượm được thông qua học tập, giáo dục. Chúng ta thực hành nó khi muốn biết tính chặt chẽ, tính chính xác, sự đúng đắn của trí tuệ.
Loại thứ hai: Đức hạnh thuộc về tinh thần và bản năng. Aristotle viết: “Đó là một chuỗi các thói quen tốt, nếu hạnh phúc đối với con người là nằm trong hoạt động về tâmhồn, phù hợp với đức hạnh thì cuộc sống tốt đẹp và hoàn hảo sẽ nằm trong hànhđộng sống theo những đức hạnh này”
Đức hạnh theo tiếng Hy Lạp nó thường được viết là “aretè” – Để chỉ sự ưu tú của tính cách. Thực chất, đức hạnh chính là một nét tính cách, nhờ nó chúng ta có thể đánh giá được con người.
Aristotle viết:
“Đức hạnh là những phẩm chất hoàn thiện, là những cái tạo ra sự hoàn thiện và cung cấp những kết quả mong đợi tốt nhất, toàn vẹn nhất có ở con người”.
Theo Aristotle, người tốt là người hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Ông gọi đó là những người có đức hạnh, là những người hoàn thiện. Aristote viết: “Đức hạnh là một thiên hướng được bản thân con người tiếp thu một cách tự nguyện” (lavertu est une disposition acquise volontain).
Cũng theo Aristotle, mức độ cao nhất của đức hạnh là đức hạnh chính trị.
Tóm lại Aristotle cho rằng, đạo đức học chính là khoa học để đạt được hạnh phúc cho con người.
+ Immanuel Kant (22/4/1724 – 12/2/1804) là nhà triết học lớn của nước Đức và của thời kỳ cận đại.
Kant đã đi vào lịch sử tư tưởng triết học nhân loại với tư cách người sáng lập nền triết học cổ điển Đức và phép biện chứng tiên nghiệm. Triết học của ông thấm đượm tính nhân văn. Điều đó được biểu hiện sâu sắc trong học thuyết của ông về đạo đức và được thể hiện ra như là những tư tưởng vượt thời đại nhằm hướng tới các giá trị toàn nhân loại. Những nội dung cơ bản trong đạo đức học Kant được tập trung trong nguyên tắc tối cao là “mệnh lệnh tuyệt đối”. Mệnh lệnh này đòi hỏi con người phải tự ý thức về mình, phải tự xem xét bản thân mình, tự tìm kiếm trong tâm hồn mình một sức mạnh đạo đức, để có thể thực hiện những hành động phù hợp với các quy tắc đạo đức phổ biến và tiến dần tới các quy tắc đạo đức phổ biến đó.
Quan niệm về đạo đức của Kant thể hiện khát vọng của con người hướng tới cái thiện, cái hạnh phúc. Muốn đạt được những điều đó thì không những đòi hỏi mọi người phải thực hành đạo đức, mà còn phải có lòng tin và tình cảm đạo đức. Thời nào cũng vậy, con người không những phải chỉ có tri thức đạo đức, mà còn đòi hỏi phải có tình cảm đạo đức để thực hành nghĩa vụ đạo đức.
+ Lão Tử (Được cho là sống ở thế kỷ 6 trước công nguyên), là nhà tư tưởng vĩ đại của Trung Quốc. Ông đã viết ra cuốn “Đạo Đức Kinh” nổi tiếng.
Lão Tử khuyên “tri nhân giả trí, tự tri giả minh”, nghĩa là biết người khác chỉ mới là trí, nhưng tự biết mình thì mới là sáng. Như vậy ông chú trọng đến việc tự chinh phục bản thân hơn là chinh phục kẻ khác. Nên bằng lòng với cái mình có, tri túc chi túc hà thời túc, tri nhàn chi nhàn hà thời nhàn, nghĩa là biết đủ thì đủ và lúc nào cũng đầy đủ cả, biết nhàn thì nhàn và lúc nào cũng nhàn cả.
Lão Tử cho rằng: “Thượng thiện nhược thủy. Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, xử chúng nhân chi sở ố, cố ky ư đạo. Cư thiện địa, tâm thiện uyên, dữ thiện nhân, ngôn thiện tín, chính thiện trị, sự thiện năng, động thiện thì. Phù duy bất tranh, cố vô vưu”. Có nghĩa là: “Người có đức cao thì như nước. Nước khéo làm lợi cho vạn vật, mà không tranh với vật nào, ở chỗ thấp, cho nên gần với đạo. Người có đức cao chọn địa vị khiêm nhường, lòng thì khéo giữ cho thâm trầm, cư xử với người thì khéo dùng lòng nhân, nói thì khéo giữ lời, trị dân giỏi, làm việc gì thì có hiệu quả, hành động thì hợp thời cơ. Chỉ vì không tranh với ai, cho nên không bị lầm lỗi”.
Tu dưỡng Đức
Cái đức có sẵn, nhưng cũng cần phải tu dưỡng nữa. Vậy làm thế nào để tu dưỡng đức? Đó là:
- SỐNG CHÂN THẬT.
ĐỂ TRỞ THÀNH NGƯỜI CÓ ĐỨC, TRƯỚC HẾT NGƯỜI TA PHẢI SỐNG CHÂN THẬT. ĐÓ LÀ KHÔNG LỪA DỐI NGƯỜI KHÁC, LUÔN CHÂN THÀNH TRONG MỌI MỐI QUAN HỆ. NGƯỜI SỐNG CHÂN THẬT LUÔN HƯỚNG TỚI CÁI CHÂN, THIỆN, MỸ VÀ VÌ VẬY MÀ CÓ TÍNH TỰ TRỌNG CAO.
Điều quan trọng nhất của sống chân thật là thật với bản thân. Từ chỗ sống thật với bản thân sẽ dẫn tới sống thật với người khác.
- TỰ KIỂM SOÁT BẢN THÂN.
Người xưa có câu: “Thư kiến hiền học cung hành, quan ái dân nghiệp chủng đức”, ý nói: “Người đọc sách mà không tu dưỡng đức, thì chỉ là nô lệ của chữ. Làm quan mà không thương yêu che chở cho dân thì chỉ là cường đạo mặc áo mũ chỉnh tề”.
Tự ràng buộc, hạn chế bản thân để cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức và lương tâm chính là hoàn thiện nhân cách. Người kiểm soát được bản thân thì sẽ sống thật với chính mình và giữ được chính nghĩa ở đời.
- GIỮ CHO TÂM TĨNH.
Tĩnh là giữ cho tâm được bình thản và cân bằng trong mọi hoàn cảnh. Người có tâm bình tĩnh không xa rời đạo lý, luôn xử sự đúng mực với người khác.
- TỰ SOI XÉT BẢN THÂN
Đó là việc tự kiểm điểm sâu sắc những lỗi lầm của bản thân, biết tự trách mình để tiến bộ.
Người quân tử xưa nay đều tự xét lại bản thân mình, còn kẻ tiểu nhân thì lại oán trời, trách người. Triết gia Khổng Tử có câu: “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” (Trách mình trước, trách người sau) là cũng có ý đó.
Một chính nhân quân tử, thường xuyên tìm những thiếu sót ở bản thân mình mà không trách cứ người, như vậy chính là người có đạo đức rồi.
Để cải tạo số mệnh, điều cốt yếu là ở bản thân mình. Cái tâm của mình phải sáng, phải nhìn ra được vấn đề mà có phương hướng giải quyết đúng đắn. Giữ cho tâm tĩnh để không bấn loạn, không làm cho tình hình trở nên phức tạp thêm. Nếu hoàn cảnh đã xấu, mà cái tâm cũng xấu theo thì mọi thứ trở nên bấn loạn, chẳng còn quy củ gì nữa, rồi dẫn đến thối nát, sụp đổ. Dùng tâm để cải biến hoàn cảnh là như thế. Tâm tốt, cũng chính là có đức vậy. Cho nên mới nói: Đức năng thắng số.
Cái đức có thể cải biến số mệnh, làm cho xấu thành tốt, gặp dữ hóa lành.
Chỉ cần bạn có tâm, chân lý luôn thuộc về bạn. Người có tâm thì cuộc sống có hạnh phúc, kẻ không có tâm thì cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì ngoài chuỗi ngày đảo điên vô định. Người có tâm cũng như người có đạo, luôn được mặt trời sáng soi.