TÂM ĐẠO (Chương IV)

 DĨ BẤT BIẾN, ỨNG VẠN BIẾN

Vạn vật đều xoay quanh tâm của nó, cho nên tâm là cái “bất biến”, vạn vật là “biến” vậy. Một nội dung quan trọng nữa của tâm đạo là tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Có nghĩa là, lấy cái không thay đổi (tâm) để mà ứng phó với cái luôn thay đổi. Nội dung này cũng gần với quan điểm “Lấy tĩnh chế động” nổi tiếng trong binh pháp Tôn Tử.
Người vô tâm thì không nắm được cái bất biến (tâm), suốt đời họ phải chạy theo cái biến, vì thế mà thân trở nên mệt mỏi, không thể an tịnh. Người như vậy thì cũng giống như đi lạc vào trong mê cung, rừng rậm vậy. Họ không có đạo để đi, cho nên mất hết phương hướng và mục đích. Người ta sống ở trên đời, phải trau dồi kiến thức để nhận biết cuộc sống, cũng như rèn luyện chân tâm để luôn vững vàng trước mọi hoàn cảnh.

     Dưới đây là một câu chuyện tiêu biểu cho việc vận dụng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong nghệ thuật quân sự:
“Khương Duy (tự Bá Ước) là một tướng tài văn võ kiêm toàn của nhà Thục Hán. Ông được thừa tướng Gia Cát Lượng (Khổng Minh) truyền cho bộ binh pháp tâm huyết của mình. Sau khi Gia Cát Lượng qua đời, Bá Ước đã nhiều lần liên tiếp mang quân ra Kỳ Sơn để phạt Ngụy, ngõ hầu tiếp tục nối chí tiền nhân.
Lần đó Khương Duy mang hai mươi vạn quân tiến ra Kỳ Sơn, rồi cho lập thành nhiều trại nối tiếp nhau. Tướng Ngụy là Đặng Ngãi cho quân lính đào địa đạo xuyên vào trong trại Thục, đợi đến đêm thì hò reo và đốt lửa. Mục đích là làm cho quân Thục rối loạn, rồi trong ứng ngoại hợp mà cướp trại.
Nửa đêm, quân Thục nghe có tiếng reo hò nổi lên như sấm dậy, rồi trại bên trái bị bốc cháy. Các tướng hốt hoảng định đem quân đi cứu, Khương Duy liền quát:
- Kẻ nào manh động, lập tức chém! Ta nghe tiếng reo hò rất gần, rõ ràng là ở phía trong doanh trại. Mục đích của địch là làm cho quân ta rối loạn để dễ bề cướp trại đó thôi!
Rồi ông ra lệnh:
- Truyền cho quân sĩ: Hễ ở đâu có tiếng reo của quân địch thì cứ tập trung cung nỏ bắn vào. Giữ vững cửa trại, không được rối loạn!
Đặng Ngãi thấy quân mình bị tên bắn chết rất nhiều mà trại Thục vẫn vững vàng, liền nói với các tướng:
- Khương Duy đã học thông thạo phép dùng binh của Gia Cát Lượng. Bị cướp trại ban đêm mà vẫn không hề rối loạn. Đúng là một tướng tài!
Nói rồi Đặng Ngãi liền cho nổi chiêng thu binh”.
Rõ ràng là Khương Duy đã vận dụng thành công nguyên tắc “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” vào trong chiến trận rồi vậy. 
Trong võ thuật cũng có những môn phái sử dụng phương pháp tĩnh chế động, nghĩa là lấy cái trung tâm, hạt nhân để hóa giải mọi thế quyền biến hóa của đối thủ. Điển hình là môn phái “Nội gia quyền” nổi tiếng ở Trung Quốc. Đây chính là cái triết lý “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong võ học vậy. Bởi phương pháp lấy tĩnh chế động này, mà “Nội gia quyền” được cho là quyền pháp vô biên.
Môn phái này do Trương Tam Phong đời Tống sáng tạo ra. Ông vốn là một đan sĩ (đạo sĩ luyện đan) ở núi Võ Đang. Tới giữa thế kỷ 16, Nội gia quyền thịnh hành ở một dãi Chiết Giang, Sơn Đông (Trung Quốc). Nội quy truyền dạy của “Nội gia quyền pháp” khá nghiêm ngặt: Quy định không truyền thụ cho kẻ tâm hiểm ác, kẻ hay đấu đá, kẻ nát rượu, kẻ khinh xuất lộ liễu, kẻ xương mềm chất ngu.
Quyền pháp của môn phái có hai thứ, là phép đánh trả theo địch và phép điểm huyệt.
Luyện tập khi nội khí chạy thông hai mạch Nhâm, Đốc qua huyệt Đại chùy sau gáy, chạy qua hai tay rồi vòng trở lại và chạy xuống hai chân qua huyệt Dũng tuyền đi hết một vòng thân thể gọi là đại Chu thiên. Khi nội khí đầy đủ mới có thể phóng được ra ngoài.
Sử dụng nội công và thế tĩnh để hóa giải muôn vàn chiêu thức lợi hại của đối phương một cách hiệu quả, “Nội gia quyền” chính là lấy tĩnh chế động, lấy nhu chế cương vậy.
Trong binh pháp cũng có một kế gọi là “Dĩ tĩnh chế động” (Lấy tĩnh chế động). Nguyên tắc của kế này là muốn duỗi thì phải co, muốn cao thì phải thấp, muốn người khác nói thì mình phải im lặng, muốn bắt thì thả ra. Lạt có mềm thì buộc mới chặt.
Tĩnh là âm, là con mái. Động là dương, là con trống. Âm có thể chế được dương.
Kẻ dương cường hành động thường bộc lộ yếu điểm. Cần bình tĩnh quan sát, đợi cho đối phương hành động và lộ ra điểm yếu thì có thể chế ngự được.
Tĩnh cũng có nghĩa là bình tĩnh thì mới sáng suốt, không bị mê hoặc bởi sự náo động.
Dưới đây là một ví dụ tiêu biểu cho chiến thuật “Dĩ tĩnh chế động” trong binh pháp.
Cùng với Gia Cát Lượng, Tư Mã Ý là một nhân vật nổi tiếng đa mưu, túc trí trong lịch sử thời Tam Quốc. Sở dĩ Tư Mã Ý có thể đẩy lui được mấy lần xuất chinh của quân Thục để giữ yên bờ cõi nước Ngụy, chính là nhờ ông đã kiên trì sử dụng chiến thuật “Dĩ tĩnh chế động” vậy. 
Tháng 4 năm 234, quân Thục hành quân đến huyện My. Lúc này, tướng Ngụy là Tư Mã Ý đã đem quân đóng trại bên bờ Nam sông Vị Thủy. Ông ra lệnh cho con trai mình là Tư Mã Chiêu giữ vững phòng thủ, không ra đánh. Sở dĩ như vậy là vì Tư Mã Ý biết được thế yếu của quân Thục là hành quân từ xa đến, việc vận chuyển lương thực khó khăn, cho nên quyết định thủ để chờ cho quân Thục vì thiếu lương mà phải tan rã, rồi mới chuyển sang thế công.
Khổng Minh dẫn một toán quân đóng ở gò Ngũ Trượng, đã nhiều lần sai người ra khiêu chiến, nhưng quân Ngụy vẫn nhất định không chịu ra đánh. Đây gọi là lấy tĩnh chế động, không đánh khi kẻ địch đang có lợi thế, chỉ đánh khi quân mình có lợi thế. Đợi thời cơ đến sẽ có thể chuyển bại thành thắng, tuyệt đối không manh động làm hỏng đại sự. Đó chính là cái tài của người dùng binh như Tư Mã Ý vậy.
Về phần mình, Gia Cát Lượng cũng hiểu rõ tác dụng lợi hại của chiến thuật phòng thủ trường kỳ đó, liền cử quân sĩ đến dưới chân thành mắng nhiếc quân Ngụy thậm tệ, nhằm chọc tức Tư Mã Ý. Nhưng quân Ngụy giả vờ như không nghe thấy, tiếp tục án binh bất động.
Dụ mãi mà quân Ngụy vẫn không ra đánh, Khổng Minh bèn nghĩ ra một kế. Ông cho lấy một cái khăn, một cái yếm và quần áo của đàn bà, đựng vào trong hòm, rồi viết thư, sai người đưa đến trại Ngụy.
Tư Mã Ý sai mở hòm ra xem, thấy có yếm đàn bà và một phong thư. Trong thư nói rằng:
Trọng Đạt đã làm một đại tướng, thống lĩnh quân đội Trung Nguyên, vậy mà không dám mặc giáp cầm gươm, để quyết sống mái mà chịu ngồi núp ở trong hang tối, để lánh lưỡi đao mũi tên, thế thì khác gì đàn bà? Nay sai người đưa khăn yếm quần áo trắng của đàn bà đến, nếu không dám ra đánh, thì phải lạy hai lạy mà nhận lấy; nếu còn biết xấu hổ, có chí khí người con trai, thì phải phê vào giấy này, y hẹn ra giao chiến”.
Tư Mã Ý xem xong, bụng đầy căm giận, nhưng cũng gượng cười mà nói rằng:
Khổng Minh coi ta như đàn bà ru?
Nhưng rồi, ông phát hiện ra đây chính là kế khích tướng, cho nên chấp nhận nhịn nhục để không trúng kế Khổng Minh. Liền chịu nhận đồ ấy, mở ra mặc trước ba quân và rất lấy làm thích thú,  rồi nhờ sứ giả chuyển lời cám ơn đến Thừa tướng.
Các tướng Ngụy thấy vậy cùng vỗ bụng căm tức, đồng thanh bẩm rằng:
Chúng tôi cùng là danh tướng nước Ngụy, chịu sao được người Thục sỉ nhục thế này? Vậy xin ra đánh để quyết một trận sống mái!
Thế nhưng Tư Mã Ý chỉ cười, ra lệnh giữ vững cửa trại mà không cho ra đánh.
Trong cuộc đời chinh chiến của mình, Khổng Minh đã “Lục xuất Kỳ Sơn”, nhưng vẫn không thể thắng nổi chiến thuật phòng thủ kiên trì của quân Ngụy. Cuối cùng Khổng Minh sức cùng lực kiệt, bệnh cũ tái phát rồi ốm chết ở gò Ngũ Trượng.
Mặc dù tài năng quân sự của Tư Mã ý không bằng Khổng Minh, nhưng nhờ kiên trì áp dụng chiến thuật lấy tĩnh chế động mà cuối cùng ông đã giành được thắng lợi trước quân Thục, giữ yên bờ cõi nước nhà”.
Trong binh pháp thì là vậy, còn trong cuộc sống, tại sao chúng ta cần phải tĩnh?
Vì rằng có tĩnh thì mới tư duy được sâu sắc, để mà đạt đến cảnh giới cao của chân, thiện, mỹ. Những kẻ ồn ào hấp tấp, thực ra là hời hợt nông cạn, vì không có chiều sâu tư duy, cho nên họ làm vậy, nói vậy nhưng không bao giờ hiểu được chân lý. Sự đời vô cùng vô tận, còn sức lực và trí tuệ của con người thì có giới hạn, vì vậy mà chúng ta không thể cứ chạy theo cái phù phiếm ở đời được. Người bị cuốn hút theo cái biến động thì cuối cùng sẽ mệt mỏi mà thất bại, suy sụp. Đơn giản là chúng ta không thể lấy cái hữu hạn mà đối chọi lại cái vô hạn, lấy cái nhỏ bé mà ganh đua với cái to lớn không cùng được.
Có câu: “Nước càng sâu thì chảy càng chậm, người càng trí tuệ thì tâm càng tĩnh”.
Câu trên ý nói rằng, những nơi nước sâu thì dòng chảy thong thả. Chính vì ở bên dưới dòng nước có độ sâu, cho nên mới duy trì được tốc độ chảy chậm rãi như thế. Người có trí tuệ, khi gặp phải những biến động trong cuộc sống, vẫn luôn gữ được một tinh thần bình tĩnh và ôn hòa. Đó là nhờ họ có được một cái nhìn tổng quan, khoa học đối với sự vật hiện tượng vậy.
Sự vật trong trời đất, hễ “Động” thì sớm tiêu vong, “Tĩnh” mới có thể tồn tại lâu dài được.
Một người có đạo đức và trí tuệ thường độ lượng trong đối nhân xử thế. Điều đó trái ngược với những kẻ hẹp hòi hám danh lợi, những kẻ tranh mạnh háo thắng. Người như vậy, kỳ thực họ sống rất mệt mỏi và khổ sở, vì tâm trạng lúc nào cũng lo lắng, bất an.
Đạo Phật chỉ ra phương pháp thiền định để tĩnh tâm và cân bằng tư duy cuộc sống. Vì tâm tĩnh chính là cái gốc để con người sống “tĩnh”.
Thiền là phương pháp thực hành nhằm rèn luyện tâm. Thông thường có các kiểu thiền phổ biến sau:
- Thiền Siêu Việt : Tâm trí tập trung cao độ và đạt đến trạng thái thư giãn sâu. Khi cơ thể đạt đến trạng thái nghỉ ngơi sâu nhất thì hệ thần kinh tự động xua đi những yếu tố bên ngoài xâm nhập vào cơ thể. Kiểu thiền này giúp cho tư tưởng trong sạch và cơ thể khoẻ mạnh.
- Thiền Chánh Niệm: Đây là loại thiền định nắm giữ suy nghĩ, cảm xúc bằng việc tập trung vào hơi thở và quan sát những cảnh vật xung quanh mà không đánh giá bản chất sự vật.
- Thiền Quán : kỹ thuật này được sử dụng để giảm đau bằng cách hình dung một phần cơ thể được chữa lành qua hình ảnh và hơi thở.
Kết quả mà thiền đem lại là rất lớn, nó giúp cho cơ thể đạt được trạng thái cân bằng cần thiết. Nếu tịnh tâm và thiền định thường xuyên sẽ rất tốt cho tâm lý và thể chất.
     Cốt lõi của “Tĩnh tâm” chính là “tu tâm”, tức là sửa đổi lòng mình để cho tâm được yên tĩnh và thanh thản, nhằm thoát khỏi những cám dỗ bất chính. “Tu tâm” cũng chính là “tu thân”, nghĩa là luôn luôn biết sửa mình để bản thân ngày càng hoàn thiện, trở thành người có ích cho xã hội.
Phật cho rằng:
Tâm dẫn đầu các pháp
Tâm chủ, tâm tạo tác 
Nếu nói hay hành động
Với tâm tư ô nhiễm    
Khổ não sẽ theo ta      
Như xe theo vật kéo. 
 Tâm dẫn đầu mọi pháp
Tâm chủ tâm tạo tác  
Nếu nói hay hành động
Với tâm tư thanh tịnh
Hạnh phúc sẽ theo ta 
Như bóng không rời hình
Bản chất của tâm là vô thường, dao động theo hoàn cảnh cho nên khó nắm giữ. Những trạng thái yêu, ghét, buồn, vui luôn đan xen, vì vậy mới cần một cái tâm tĩnh để nhìn nhận vấn đề được sáng suốt, khách quan.
Tâm không thanh tịnh là cái tâm nhiễm tham, sân, si. Một khi đã tham thì tìm cách theo đuổi để đạt được mục đích mong muốn. Và rồi tất cả lòng tham đều chỉ hướng về sự hưởng thụ, cung phụng cái thân xác cho được sung sướng, cả vật chất lẫn tinh thần. Vì bị lòng ham muốn chi phối mạnh mẽ mà người ta thường có những suy nghĩ trái với lẽ phải và luân thường đạo lý. Một khi tâm đã bị ô nhiễm thì không thể an lạc và thanh tịnh được. Cho nên mới cần tu tập thiền định, để không còn những tạp niệm trong tâm tưởng nữa.
Để tâm được thanh tịnh, cần siêng năng thực hành tu tập và có đức tính kiên nhẫn, một lòng hướng thiện.
Có câu: “Nếu tâm chúng sanh được thanh tịnh thì bóng Bồ Đề tự hiện vào”.
Tôn Vũ là một nhà quân sự nổi tiếng cuối thời Xuân Thu, ông đã đề ra phương pháp “Bốn làm chủ” để người làm tướng có thể tịnh tâm sáng suốt khi tác chiến, nội dung như thế này:
 1/ Làm chủ chí khí:
Trong tác chiến, sự thắng bại có mối quan hệ cực kỳ mật thiết với dũng khí của tướng sĩ. Vì vậy mà sĩ khí và ý chí chiến đấu là nhân tố hàng đầu của sức chiến đấu. Sĩ khí dâng cao thì dễ giành thắng lợi, sĩ khí sa sút thì thường dẫn đến thất bại. Cho nên người tướng soái phải làm chủ được chí khí của mình.
  2/Làm chủ nhân tâm:
Trong mọi trường hợp, tướng soái không được dao động tinh thần, vì như vậy sẽ dễ mắc sai lầm. Chữ “Tâm” ở đây người thời trước gọi bằng “bản tâm”, “tâm mưu”, mặc dầu nội dung của nó bao gồm các phương diện khí chất tinh thần, nhưng hạt nhân là lòng quyết tâm chiến đấu của tướng soái.
  Tôn Tử nói: “Tướng có thể dành lòng người. Đối xử với rối loạn bằng việc làm chủ, đối xử với sự ồn ào bằng sự yên tĩnh, đó là làm chủ nhân tâm”.            
3/ Làm chủ nhân lực:
Tôn Vũ nêu lên phương pháp làm chủ nhân lực như thế này: “Đối xử với cái xa bằng cái gần, đối xử với cái mệt nhọc bằng cái thư nhàn, đối xử với cái đói bằng cái no”. Ông cho rằng lúc tác chiến phải nuôi dưỡng bằng cái tinh nhuệ, như thế mới có khả năng giành thắng lợi.            
4/ Làm chủ sự biến đổi:
Cơ mưu quân sự biến đổi khôn lường, khi đã nắm được quyền chủ động trên chiến trường, vẫn không thể xem nhẹ vai trò của chiến thuật “làm chủ sự biến đổi”. Cái gọi là làm chủ sự biến đổi ấy là nắm vững phương pháp biến hóa cơ động.
Những quan điểm trên của Tôn Vũ, mấu chốt cũng là người tướng soái phải biết kiểm soát tâm tính bản thân, từ đó mà làm chủ được tình hình tác chiến. Muốn làm chủ được tâm tính và ngoại cảnh, dĩ nhiên là tâm phải tĩnh. Quả đúng như vậy, người làm tướng khi gặp địch mà tâm biến loạn thì làm sao có thể làm chủ được tình hình, làm sao có thể điều khiến ba quân để mà tác chiến thắng lợi? Cho nên tĩnh tâm là cốt lõi của mọi vấn đề là như thế.
Cuộc chiến giữa thiện và ác xưa nay, cái thiện bao giờ cũng giành thắng lợi cuối cùng. Tuy cái ác có lúc thắng thế áp đảo, nó trăm phương ngàn kế để làm cho xã hội đảo điên. Nhưng cái thiện với sự chính nghĩa của mình, với cái tâm vững vàng bình thản, luôn vững vàng trước cái ác, để rồi đưa con người trở về với đạo lý yêu thương.
Cái ác như lửa, nó bốc cao ngùn ngụt hòng thiêu cháy tất cả dưới sức nóng dữ dội. Cái thiện như nước, khiêm nhường chảy dưới thấp, nhưng lúc nào cũng dập tắt được ngọn lửa hung tàn kia. Lửa bốc lên cao, nước chảy xuống thấp, nhưng nước bao giờ cũng thắng lửa, chính nghĩa luôn thắng hung tàn.
Cuộc sống con người, tất không thể tránh khỏi những bước thăng trầm. Nếu gặp cảnh ngộ nào mà tâm trí của bạn cũng xáo trộn thì đời sống sẽ bất an, vậy nên cần phải tĩnh tâm thì mới có được sự hạnh phúc, an lạc. Sau đây là những cách để cho tâm giữ được an lạc:
+ Không quan tâm đến thắng bại, được mất, thịnh suy.
Đó là những lẽ thường ở đời, không có gì đáng để ta phải bận tâm mà chuốc lấy sầu não cả.
+ Không quan tâm đến chuyện thị phi, lời khen hay tiếng chê.
Thực ra, con người không cần phải chạy theo danh thơm, tiếng tốt. Vì một khi xứng đáng, bạn ắt sẽ có danh thơm tiếng tốt, không cần phải tìm. Có câu: “Hữu xạ tự nhiên hương” là vậy. Nghĩa là một loài hoa có hương sắc, thì tự nhiên mọi người sẽ biết đến mà thôi.
 Khi bị oan ức cũng không cần biện bạch, vì biện bạch có nghĩa là tâm chưa xả.
Không nên nhìn lỗi lầm của người khác và quan tâm họ có làm hay không, chỉ cần tự xem mình có làm hay không.
+ Bình thản đón nhận mọi hạnh phúc và khổ đau.
 Lẽ thường, người ta vui vẻ khi hạnh phúc, đau buồn khi gặp chuyện không may. Đó là những tình cảm hoàn toàn tự nhiên và phù hợp với tâm lý con người. Tuy nhiên, tình cảm thái quá sẽ mang lại những hậu quả không tốt cho bản thân,vì vậy cần phải giữ được cái tâm bình khi đón nhận hoàn cảnh. Không vọng động chạy theo những tình cảm tự nhiên một cách thái quá, hãy giữ mọi thứ ở một trạng thái chừng mực cân bằng.
Nếu thực hành được những điều đó trong cuộc sống, có nghĩa là bạn đang “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” và “Dĩ tĩnh chế động” rồi vậy.
 Khi sống tĩnh, vì có thời gian suy tư và nghiền ngẫm về cuộc đời, cho nên bạn sẽ thấy được cái sự vận động kỳ thú của nó. Từ đó mà rút ra những quy luật, cũng như kinh nghiệm hữu ích cho bản thân. Mặt khác, khi nhìn thấy cuộc sống vận động một cách đa dạng như vậy, bạn sẽ biết được cái cái tôi cá nhân nhỏ bé của mình ở đâu trong vũ trụ bao la này. Để rồi bạn biết yêu bản thân hơn, sống độ lượng hơn với mọi người. 
Sự vật dù biến đổi khôn lường, nhưng đều xoay quanh trục trung tâm của nó. Vạn vật tuy phong phú muôn vàn, đều khởi điểm từ hạt nhân ban đầu. Cho nên bậc đại nhân đại trí luôn biết “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” vậy.

Bài đăng phổ biến từ blog này

TÂM ĐẠO (Chương III)

TÂM ĐẠO (Chương II)

TÂM ĐẠO (Chương VII)