TÂM ĐẠO (Chương I)

 ĐẠO CỦA CÁI TÂM


Trong lịch sử nhân loại, các trường phái triết học và tôn giáo đều cố gắng đưa ra những định nghĩa về khái niệm con người. Bởi vì con người là một thực thể phức tạp, cần phải được tìm hiểu và nghiên cứu một cách nghiêm túc. Loài người luôn muốn biết bản thân là ai, được đến từ đâu, và sứ mệnh của mình là gì? Ngay từ khi mà khoa học còn chưa phát triển, các nhà tư tưởng đã có những lập luận mang tính nền tảng, nhằm giải đáp mối quan tâm thường trực này. Từ đó mà chúng ta có được một cái nhìn khái quát về nguồn gốc cũng như những đặc tính phổ biến của con người.

- Ky tô giáo quan niệm con người có thể xác và linh hồn. Thể xác thì mất đi nhưng linh thì tồn tại vĩnh cửu. Vì vậy, phải thường xuyên chăm sóc linh hồn để hướng đến Thiên đường nước chúa.

     - Người Hy Lạp cổ đại thì cho rằng: Con người là một tiểu vũ trụ trong vũ trụ bao la.

     - Thời kỳ Trung cổ quan niệm con người là sản phẩm sáng tạo của thượng đế. Cuộc sống nơi trần thế chỉ là tạm bợ, hạnh phúc vĩnh cửu là ở thế giới bên kia.

     - Với cái nhìn thực tế và tiến bộ hơn, triết học thời Phục hưng định nghĩa con người là một thực thể có trí tuệ.

     - Nhà triết học cổ điển Đức G.V.Hegel cho rằng con người là hiện thân của “ý niệm tuyệt đối”, còn L.Feuerbach lại quan niệm con người là kết quả của sự phát triển của tự nhiên. Con người và tự nhiên là một thể thống nhất, không thể tách rời.

     Tựu trung lại, các quan điểm đó đều thống nhất ở điểm chung: Con người là một thực thể gồm có thể xác và tâm hồn.

Mà chúng ta đều biết, tinh hoa của cái linh hồn và trí tuệ ấy chính là tâm con người.

     Vậy “tâm” là gì? Cái tâm nằm ở đâu trong con người chúng ta? Hình dáng của nó ra sao? Làm thế nào để có thể nhận biết và làm chủ được nó? 
     Con người vốn được cấu tạo bởi hai thành phần: 

- Phần vật chất: Có thể nhìn thấy và sờ nắn được, gọi là thân xác. 

- Phần tinh thần: Phần này không nhìn thấy, không sờ nắn được, gọi là phần hồn (hay còn gọi là tâm). 

Thân xác con người không thay đổi bởi khả năng nội tại, ngược lại thì tâm tính có thể thay đổi bởi tự rèn luyện hoặc do sự tác động của môi trường bên ngoài. Người ta thay đổi tâm tính bằng chính khả năng nội tại của mình, chứ không phải do sự tác động vô điều kiện từ môi trường hoặc cá thể bên ngoài. Có nghĩa là tâm tính được thay đổi một cách có chọn lọc bởi nhận thức có sẵn. Vì rằng, về bản chất thì con người chỉ tuân phục bản thân mình, họ chỉ tiếp nhận những cái mới một khi cảm thấy có nhu cầu, hoặc những kiến thức đó phù hợp với nhận thức bản thân. Con người khác cái máy là ở chỗ đó, cái máy tuân phục một cách vô điều kiện theo khả năng điều khiển của người khác. Con người thì không như vậy, bằng tư duy và kinh nghiệm của bản thân, những kiến thức tiếp nhận được cũng sẽ thay đổi hoặc đào thải theo thời gian. Họ chỉ giữ lại cho mình những kiến thức mà cần và cảm thấy đúng. Sự tác động từ bên ngoài nhiều khi cũng mang tính ép buộc, tuy nhiên bằng chính nhận thức và cái tâm của mình, con người sẽ biết lựa chọn và giữ lại cái gì cần thiết, đào thải những thứ sai trái. Thứ để điều khiển tư duy lựa chọn đó chính là cái tâm. Tâm tốt thì thích học hỏi những kiến thức hữu ích, tâm xấu thì có xu hướng tiếp thu những cái xấu. Cho nên cái tâm xuất phát mà tốt thì mọi thứ về sau cũng tốt đẹp và ngược lại.
Đề cập đến vấn đề này, đạo Phật gọi thân là “sắc”, còn tâm là “danh”.  “Danh” thì bao gồm có bốn yếu tố: thọ (chỉ cảm xúc), tưởng (tưởng tượng), hành (ý muốn) và thức (nhận biết). Trong đó hai yếu tố hành và thức đóng vai trò quan trọng nhất, vì chúng là cội nguồn gây ra “nghiệp”. 

“Thức” lại bao gồm từ cái nhận biết của năm giác quan (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác), tương ứng với: nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức và thân thức đến một thức nữa là ý thức. Ngoài ra còn hai thức khác là mạt-na thức (còn gọi là tâm tư-lương) và quan trọng hơn cả là a-lại-da thức (còn gọi là tâm tập-khởi). Tổng cộng có tám thức. Như vậy “cái tâm” trong con người bao hàm các thành phần thọ, tưởng, hành, thức; trong đó thức có vai trò quan trọng và chứa đến tám yếu tố khác nhau. Cho nên tâm còn được gọi là tâm thức, là trung tâm của cảm giác, của tình cảm, của ý thức và hành động.

Chỉ có tâm là hiện hữu, còn vạn vật đều là mộng ảo. Đức Phật có nói rằng: “Tâm sinh ra vạn pháp”. Trong đó, tâm sinh ra những điều tốt nhất (cực lạc) nhưng cũng đồng thời sinh ra những điều tệ hại nhất (địa ngục). Bởi vậy mà chúng sinh phải làm sao để nhận ra và làm chủ được tâm của mình.

Để nhận diện được tâm, phải thấy rằng: cùng một sự việc, tâm có thể biểu lộ qua hai trạng thái khác nhau. Một, theo hướng tích cực, là tâm sáng, tâm thiện, tâm bình hướng đến “chân tâm”, đó là “tâm giác ngộ”, là trạng thái giải thoát của tâm. Ở đó, tâm tự do, không bị trói buộc và nhận thức đúng đắn. Hai, theo hướng tiêu cực, tâm là tâm mê, tâm ác, tâm loạn, đó chính là “tâm vô minh”, là trạng thái vẩn đục, ô trọc của tâm. Làm chủ được tâm mình có nghĩa là khống chế được cái ác và phát huy tâm thiện trong con người. Vì rằng “tâm bình thì thế giới bình”, ngược lại “ tâm loạn ắt thế giới sẽ loạn”.

Ý nghĩa của chữ “tâm” trong đạo Phật tuy  thâm sâu nhưng cũng rất mơ hồ, trừu tượng, khó mà nhận biết cho thật rõ ràng được. 

Cái tâm quan trọng là vậy, cho nên ngành khoa học nào cũng nghiên cứu. Các nhà nhân tướng học thì lại tìm hiểu tâm con người thông qua tướng pháp. Có nghĩa là nhìn nhận tâm tính qua hình thức và sắc diện của cơ thể. Sau cùng, họ đều thừa nhận rằng:
“Tướng tự tâm sinh
Tướng tùy tâm diệt”

Được hiểu là tâm thế nào thì biểu hiện ra tướng mạo bên ngoài như thế ấy. Tướng là do tâm sinh ra, và cũng do tâm diệt. Cho nên có thể thông qua diện mạo để mà nhận biết tâm lý và hành vi của một con người.

Tướng mạo không bằng tâm là vì vậy. Cái tâm có thể cải biến và thay đổi tướng mạo con người. Nói về tâm, dĩ nhiên là không cụ thể vì nó không phải là thứ hữu hình có thể sờ nắn được. Tâm vô hình, nhưng lại vô cùng vững chắc, nó chiếm vị trí trung tâm trong mọi vấn đề của cuộc sống con người, của thế giới quan vũ trụ.

Cũng như nhân tướng học, Tâm Đạo không phải là một bộ môn khoa học chính xác. Vì vậy mà nghiên cứu nó đòi hỏi phải có tư duy năng động và tùy biến. Nghiên cứu tướng mạo con người đã khó, nhưng nghiên cứu Tâm Đạo còn khó hơn. Tâm chính là cái gốc sinh ra tướng mạo, nó thay đổi, biến hóa nhanh chóng và vô định. Cho nên Tâm Đạo có một thực tiễn rất phong phú và sinh động. Tâm lý của con người khó dò đoán, lại càng khó nắm bắt vì nó có thể thay đổi không ngừng và tùy theo trạng thái cảm xúc, hoàn cảnh cuộc sống. Cho nên nghiên cứu Tâm Đạo là phải có vốn kinh nghiệm sống càng dày dạn càng tốt. Vì rằng nó không thể thiếu được sự chiêm nghiệm và từng trãi. Người nghiên cứu Tâm đạo ngoài việc phải có một vốn kiến thức rộng và kinh nghiệm sống dồi dào, còn phải biết đặt bản thân vào vị trí của người khác. Có nghĩa là hóa thân để mà nắm bắt tâm lý, tư tưởng, để thấu hiểu và cảm thông với hoàn cảnh của họ. 
Trong cuộc sống, chữ “tâm” thường được hiểu là lòng người (ví như: Tâm đắc, tâm địa, tâm trạng…). Đó chính là ý nghĩ và tình cảm để làm nên đời sống nội tâm, tức là thế giới bên trong của con người. 
Những hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hoạt động thì người ta gọi là “tâm lý”. Về tâm lý, cũng có nhiều quan điểm khác nhau:

- Quan điểm duy tâm cho rằng: Tâm lý con người do thượng đế sáng tạo ra và nhập vào thể xác con người. Tâm lý không phụ thuộc vào khách quan cũng như điều kiện thực tại của cuộc sống. 

- Quan điểm duy vật tầm thường: Tâm lý, tâm hồn được cấu tạo từ vật chất, do vật chất trực tiếp sinh ra như gan tiết ra mật. Họ đồng nhất cái vật lí, cái sinh lí với cái tâm lý, phủ nhận vai trò tích cực của chủ thể, phủ nhận bản chất xã hội của tâm lý. 

- Quan điểm duy vật biện chứng: Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua hoạt động của mỗi người. 

Người ta cho rằng, thế giới khách quan (gồm thế giới tự nhiên và xã hội) quyết định tâm lí con người. Trong đó nguồn gốc xã hội là yếu tố quyết định hàng đầu, được thể hiện qua các mối quan hệ: kinh tế - xã hội, đạo đức, pháp quyền, quan hệ gia đình, làng xóm, quê hương, quan hệ cộng đồng… 

Cho rằng các mối quan hệ trên quyết định bản chất tâm lí con người. Thực tế cũng đã chứng minh, nếu con người thoát li khỏi các mối quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người với nhau thì tâm lý cũng sẽ mất đi bản tính người. Tâm lý hình thành và biến đổi cùng với sự phát triển của lịch sử cá nhân cũng như cộng đồng. Mỗi cá nhân vừa mang đặc tính chung xã hội vừa mang những nét riêng của bản thân. Như vậy là tâm lý có bản chất xã hội, tính lịch sử và tính chủ thể.

     Kết thúc tác phẩm “Truyện Kiều”, Nguyễn Du có viết:
“Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Nguyễn Du cũng đặt chữ “tâm” ở vị trí trung tâm của cuộc đời con người, coi đó là thứ để mà cải hóa và thay đổi vận mệnh. Ở đó, tâm như một cái trục, mọi đức tính khác cứ thế mà xoay quanh, chịu sự tác động của nó để tạo nên các giá trị của cuộc sống. Không phải tác giả truyện Kiều chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Mạnh và ý thức hệ phong kiến, mà ông đã thực sự chiêm ngiệm được tầm quan trọng của cái tâm con người, một cách vừa vô hình vừa hữu hình rồi vậy. Chữ “Tài” ở đây chỉ tri thức và kỹ năng con người, nếu không có cái tâm tốt để điều hướng thì nó cũng trở nên vô dụng, thậm chí là gây hại cho xã hội. Cái tài đem phục vụ mục đích tốt thì có kết quả tốt, phục vụ mục đích xấu thì có kết quả xấu.

Tâm nếu được tu dưỡng thì sẽ ngày càng tỏa sáng mà không bị lu mờ, giống như viên ngọc quý được người ta rèn giũa. “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý” là vì vậy. Cái tâm khi sinh ra vốn đã có ở trong lòng ta, trãi qua quá trình tu dưỡng và hấp thụ linh khí tốt đẹp của cuộc đời mà trở nên sáng rỡ như ánh mặt trời. Môi trường tác động đến tâm, nhưng không phải là yếu tố quyết định hình thành nên cái tâm. Ví dụ ở loài vật là rõ nhất, mặc dù không được sự giáo dục hay rèn luyện, nhưng chúng vẫn có tình yêu thương đồng loại, thậm chí là yêu thương cả giống loài khác. 

Trong cuộc sống, có nhiều câu chuyện để chứng minh cho cái tâm của con người. Thời tam quốc(1), Lưu Bị vốn là một người xuất thân thấp hèn và học vấn thấp, làm nghề dệt chiếu bán dép. Ông chẳng có gì nổi trội so với các nhân vật anh hùng thời đó, nhưng nhờ cái tâm của mình, cuối cùng đã trở thành vua nước Thục, và là một trong ba nhân vật lừng lẫy tạo nên thế chân vạc nổi tiếng trong lịch sử (cùng với Tào Tháo và Tôn Quyền). 

Cuối đời Đông Hán, gian thần thao túng triều đình, trộm giặc nổi lên như ong khiến cho dân tình khốn khổ. Lưu Bị cùng hai em kết nghĩa là Trương Phi và Quan Vân Trường có chí muốn khuông phò Hán thất, dẹp yên nội loạn. Nhưng vì không có người tài giúp đỡ, cho nên cứ mãi long đong lận đận, bốn bể không nhà. Vì thế ông mới nghe theo lời khuyên của Từ Nguyên Trực, đến cầu Khổng Minh ra giúp. Lưu Huyền Đức ba lần đến lều tranh để tìm gặp Khổng Minh, và đây là tích “Tam cố thảo lư” nổi tiếng:

“…Huyền Ðức thấy Khổng Minh mình cao tám thước, mặt đẹp như bạch ngọc, mắt sáng tựa sao sa, đầu đội khăn xếp cuốn, mình khoác áo lông hạc, phiêu diêu đường bệ mà có phong thái thần tiên. 

Huyền Ðức vội thi lễ mà rằng: 

- Một đứa cháu hèn kém của nhà Hán, một kẻ ngu phu ở Trác quận, nghe tiếng tiên sinh đã từ lâu như sấm bên tai, vừa đây đã hai lần đến đây bái yết mà vẫn chưa được gặp, nên có ghi tên hèn gửi lại trên văn kỷ. Chẳng hay tiên sinh đoái nhìn chưa? 

Khổng Minh nghiêng mình đáp lễ, nói: 

- Tôi là một kẻ quê mùa ở Nam Dương, tính lười nết xấu, được Tướng quân mấy lần chiếu cố, thực tôi lấy làm hổ thẹn vô cùng. 

Thi lễ xong, Khổng Minh mời Huyền Ðức chia ngôi chủ khách mà ngồi đàm đạo. 

Lát sau, tiểu đồng bưng trà lên, hai người dùng qua vài chung, rồi Khổng Minh nói: 

- Tôi xem y thư hôm nọ, thấy đại ý của Tướng quân muốn làm việc đại nghĩa, cứu dân độ thế. Song tiếc rằng Lượng này ít tuổi, vô tài, chỉ làm nhọc công Tướng quân đó thôi. 


Huyền Ðức ân cần nói: 

- Lời của Từ Nguyên Trực và Tư Mã Ðức Tháo há nói sai sao? Xin tiên sinh chớ chê Bị này bỉ tiện mà dạy bảo cho... 

Khổng Minh lắc đầu: 

- Ðức Tháo, Nguyên Trực mới là những bậc cao sĩ trên đời, còn Lượng chỉ là một gã nông phu có tài cán chi mà bàn việc thiên hạ? Sao Tướng quân lại bỏ ngọc đẹp để đi tìm đá sỏi như vậy? 

Huyền Ðức nghiêng đầu tha thiết nói: 

- Ðại trượng phu có kỳ tài kinh bang tế thế, há lại sống vất vả vô ích nơi suối hoang, rừng rậm, để tài lớn mai một đi chăng? Xin tiên sinh hãy thương lấy sinh linh thiên hạ, mà dạy bảo mở mang cái trí ngu cho Bị.

Khổng Minh khẽ mỉm cười, hỏi: 

- Xin cho nghe cái chí nguyện của Tướng quân? 

Huyền Ðức bèn ngồi ngay ngắn lên, trịnh trọng đáp: 

- Nay nhà Hán nghiêng đổ, bị kẻ gian hùng chiếm đoạt, Bị này không kể sức, muốn cử binh diệt trừ loài phản tặc, nhưng vì trí thuật kém cỏi, không thể làm được việc nên nhờ tiên sinh vạch đường cho, để cứu khốn phò nguy, thật là vạn hạnh lắm!

Khổng Minh trầm tư một lúc, rồi nói: 

- Từ khi Ðổng Trác phản nghịch, hào kiệt nổi dậy khắp thiên hạ. Tào Tháo thế kém hơn Viên Thiệu, cuối cùng thắng được Viên Thiệu, đó không phải chỉ nhờ số trời mà cũng nhờ mưu người đó. Nay Tào Tháo đã nắm trăm vạn quân trong tay, lấy Thiên tử để sai khiến chư hầu. Như thế, thật khó tranh giành lại được. Tôn Quyền chiếm Giang Ðông nối nghiệp đã ba đời, nước hiểm trở, dân thuận phục. Vậy cũng chỉ nên kết làm ngoại viện, chứ không thể mưu chiến. Còn Kinh châu phía Bắc có sông Hán, sông Miện; nguồn lợi phía Nam đến tận Nam hải; mặt Ðông liền với Ngô Hội; phía Tây thì thông với Ba Thục, chính là đất dụng võ. Nếu chẳng phải chân chúa thì khó mà giữ được. Ðó là chỗ trời dành cho Tướng quân đó, chớ nên bỏ. Ðất Ích châu hiểm trở, ngàn dặm đồng lầy, nổi tiếng là "cái kho nhà trời". Xưa vua Cao Tổ cũng nhờ vào đó mà nên đế nghiệp. Nay Lưu Chương nhu nhược, dân đông nước giàu, lại chẳng biết lo giữ vững. Những kẻ trí năng đều chán nản, chỉ mong mỏi được thờ một đấng minh quân. Nay Tướng quân là dòng dõi nhà Hán, tín nghĩa sáng rỡ khắp bốn bể, lại biết thu phục anh hùng, cầu người hiền như khát nước, nếu gồm được châu Kinh, châu Ích mà giữ vững thế hiểm, thì phía Tây hòa với các rợ Nhung, phía Nam vỗ yên các xứ Di, Việt, rồi bên ngoài kết liên Tôn Quyền, bên trong sửa sang chính lý. Chờ khi thiên hạ có biến, hãy sai một Thượng tướng kéo quân Kinh châu lên miền Uyển Lạc. Còn Tướng quân thì thân đem đại binh Ích châu ra mặt Tần Xuyên. Thử hỏi trăm họ bốn phương, nơi đâu lại không đem giỏ cơm, bầu nước ra đón Tướng quân? Ðó, Lượng này vì Tướng quân mà vạch kế như thế đấy. Tướng quân hãy lo mà làm đi.

Rồi gọi tiểu đồng đem ra một bức địa đồ, treo lên giữa nhà, Khổng Minh trỏ tay bảo Huyền Ðức:

- Ðây là bản đồ năm mươi bốn huyện Tây Xuyên. Tướng quân muốn dựng nghiệp Ðế thì phía Bắc phải nhường cho Tào Tháo chiếm thiên thời. Phía Nam nhượng cho Tôn Quyền chiếm địa lợi. Còn Tướng quân phải chiếm lấy nhân hòa. Vậy trước phải lấy Kinh châu làm nhà, sau lấy Tây Xuyên mà khai cơ nghiệp, tạo thành cái thế chân vạc rồi sau mới mưu đồ đến cái đất Trung nguyên”.

Trong tích trên có câu nói của Khổng Minh: -  …Tướng quân muốn dựng nghiệp Ðế thì phía Bắc phải nhường cho Tào Tháo chiếm thiên thời. Phía Nam nhượng cho Tôn Quyền chiếm lấy địa lợi. Còn Tướng quân phải chiếm lấy nhân hòa…”.

Nhân hòa mà Khổng Minh muốn nói ở đây chính là lòng người. Theo ý Khổng Minh, Lưu Bị nếu muốn nên nghiệp lớn thì phải biết lấy lòng người, phải lấy cái tâm của mình để đối đãi với dân chúng. Cho nên trong lịch sử, Lưu Bị nổi tiếng là một người nhân đức. Lưu bị cầu người hiền bằng cái tâm của mình, và cai trị đất nước cũng bằng chính cái tâm của mình vậy. Do đó mà ông đã có thể thành tựu sự nghiệp một cách vững vàng. 

Phật giáo cho rằng, cái quan trọng nhất tác động đến các hành vi của con người chính là cái tâm. Tâm tính quyết định tư duy, từ tư duy người ta sẽ đi đến hành động. Vì thế mà tùy theo cái tâm của mình, mọi việc sẽ dẫn tới kết quả theo như luật Nhân Quả đã đề cập.

Vậy người như thế nào thì được coi là có tâm? Đó là người luôn đối xử tốt và công bằng với tất cả, luôn giúp đỡ người khi hoạn nạn, không bao giờ có ý làm hại người khác. Người có tâm không nói năng tùy tiện, không nhận xét hay đánh giá bất cứ điều gì khi chưa hiểu rõ sự thật. Họ luôn mong mọi thứ quanh mình trở nên tốt đẹp, vui mừng khi thấy người khác hạnh phúc và tiến bộ, buồn bã khi có điều bất hạnh xẩy ra với đồng loại. Tóm lại, đó là một người có bản chất và tâm tính tốt. Điểm tích cực nhất của người có tâm là họ sẽ tranh đấu cho lẽ phải, để cải thiện môi trường xã hội theo chiều hướng tốt hơn. Cho nên người có tâm tốt không hề nhu nhược, mà trái lại rất tích cực đấu tranh để loại trừ điều xấu. Đó là mẫu người tích cực, một công dân tốt trong xã hội vậy. Một cá nhân có cái tâm tốt đẹp thì họ luôn hướng đến những hành vi lợi ích cho cộng đồng. Những người như vậy luôn được xã hội đề cao, trở thành tiêu chí cho mọi người học tập và noi theo.

Tâm tốt thì cần phải song hành với sự công bằng và chính trực. Đó là điều kiện cần và đủ để giữ cho cái tâm luôn được cân bằng và sáng suốt. Đối với người theo đạo cũng vậy, muôn sự đều do tâm sinh ra, lòng thành cũng ở tâm mà ra vậy, cho nên mới có câu: “Phật tại tâm” là vì thế.

Câu chuyện dưới đây được trích trong kinh Luân Chuyển Ngũ Ðạo:
 “Đức Phật bảo:
– Này A Nan(2)! Muôn vật giữa đời đều có túc duyên. Người được quả báo hào quý làm bậc quốc vương, trưởng giả, từ nơi nhân lễ kính, phụng sự Tam Bảo mà đến. Người được quả báo giàu có, của cải vô hạn, từ nơi nhân bố thí mà đến. Người được quả báo sống lâu, không đau bịnh, thân thể mạnh khoẻ cao lớn, từ nơi nhân giữ giới mà đến. Người được quả báo đoan trang xinh đẹp, nước da trắng tươi sáng rỡ, ai thấy cũng đều ưa thích mến chuộng, từ nơi nhân nhẫn nhục mà đến. Người tánh nết siêng năng mau mắn, ưa làm việc phước thiện, từ nơi nhân tinh tấn mà đến. Người dáng điệu an nhàn, lời và hạnh đều có suy nghĩ, chừng mực, chắc chắn, từ nơi nhân thiền định mà đến. Người thông minh tài trí, hiểu suốt thâm pháp, từ nơi nhân tu huệ mà đến. Người được tiếng nói thanh thao rõ suốt, ai cũng ưa nghe, từ nơi nhân tụng kinh, ca ngợi Tam Bảo mà đến. Người dáng vẻ sáng sạch hiền hòa, không đau yếu, ai thấy cũng mến, từ nơi nhân từ tâm mà đến.
Ngài A Nan thưa:
– Bạch Thế Tôn! Sao gọi là “từ tâm”?
Ðức Phật bảo:
- Từ tâm có bốn điều: Một là thương tất cả chúng sanh như mẹ thương con. Hai là thấy chúng sanh khổ, xót xa muốn cứu độ. Ba là thấy chúng sanh hiểu đạo, biết làm lành, hướng về nẻo giải thoát, sanh lòng vui mừng. Bốn là thường ái hộ chúng sanh, chẳng những săn sóc giữ gìn thân mạng, mà còn không có lời vô ý làm cho người bất mãn, buồn rầu. Ấy là những tướng trạng của từ tâm”.
Vì không thể nhìn thấy, không sờ nắn được, cho nên Tâm là một khái niệm trừu tượng. Tuy vậy nó  luôn hiện hữu trong con người, chi phối mọi cảm xúc và hành động của chúng ta. Căn cứ vào cái tâm mà người ta có thể phân ra những hạng người khác nhau. Con người là một sinh vật hành động có mục đích, vì vậy thường thì nhưng công việc có ích thì họ mới làm. Người làm việc có ích cho bản thân nhưng lại có hại cho người khác thì gọi là “ích kỷ hại nhân”, như vậy vừa bị xã hội lên án, vừa vi phạm pháp luật. Vì hẳn pháp luật nào cũng ngăn cấm những hành vi và việc làm tổn hại đến con người và xã hội cả. Cho nên khi làm việc thì phải lợi mình lợi người, mới gọi là người có tâm lành và có ích cho cộng đồng.
Cảm xúc trong mỗi con người cũng đồng thời do Tâm làm chủ. Khi một người nóng giận, có nghĩa là cái tâm của họ đang loạn, đang ở trạng thái mất cân bằng. Mà trạng thái mất cân bằng thì không hề tốt chút nào, vì nó sẽ mang lại hậu quả xấu, nhiều khi là không lường trước được. Cho nên việc cần làm là phải đưa cảm xúc về trạng thái cân bằng, phải bình tâm trở lại. Khi cảm xúc ở trạng thái mất cân bằng cực đoan, dĩ nhiên là cái tâm không còn sáng suốt để suy xét vấn đề, điều đó rất tai hại cho bản thân họ. Làm chủ được tâm tính, đồng nghĩa với việc làm chủ được hoàn cảnh, để mọi thứ luôn được ở trạng thái tốt đẹp mà không bị đổ vỡ. Do đó người ta cần phải giữ cho tâm bình là vì vậy.
Tư tưởng của Lão Tử(3) được đề cập trong Đạo Giáo(4) rất phù hợp với tinh thần của Tâm Đạo, đó là sự chân thành, nhân ái, lương thiện và đức hy sinh. Đạo giáo hướng dẫn con người biết cách kết nối với chính bản thân mình, đặc biệt là bản ngã sâu xa nhất của mỗi người. Trên tinh thần đó, Lão Tử đề ra bốn nguyên tắc căn bản để con người thực hành:
1. Tôn trọng tất cả mọi sinh mệnh
Đức tính này thể hiện thông qua sự yêu thương và biết quan tâm đến tất cả sinh vật. Chúng ta có thể bắt đầu điều này bằng việc thể hiện tình yêu với những người xung quanh và dần dà mở rộng ra với mọi sinh vật.
Đây là bản chất tự nhiên bẩm sinh trong tâm hồn mỗi người, cũng như của vũ trụ này. Khi tôn trọng mọi sinh mệnh quanh mình, chúng ta sẽ không bao giờ muốn kiểm soát hay làm tổn thương bất cứ ai, thay vào đó là sự chân thành và biết ơn đối với tất cả họ. Nhân cách này giúp con người giảm bớt được cái tôi của cá nhân mình.
Tôn trọng và thương yêu tất cả, đó là phẩm chất đáng quý nơi con người. Vì rằng, tất cả mọi người trên đời này đều bình đẳng, và họ đều xứng đáng được như bản thân mình. Như một quy luật nhân quả, khi bạn tôn trọng và thương yêu tất cả thì cũng sẽ được tất cả tôn trọng và thương yêu lại.
2. Chân thành
Đức tính chân thành bao gồm cả sự tử tế và lòng trung thực. Khi chúng ta sống thành thật với mọi người, cuộc sống sẽ trở lên tĩnh lặng và thanh thản. Đó là cái được rất lớn, không những cho bản thân mà còn cho mọi người xung quanh mình. Khi lương tâm thoải mái, tâm trí của người ta cũng vì thế mà luôn sáng suốt và ôn hòa. Một người như thế, hẳn sẽ rất mọi người yêu thích và kính trọng, tình thương vì thế mà càng được nhân lên. Một môi trường có nhiều người chân thành, cuộc sống sẽ trở nên hạnh phúc và tốt đẹp vô cùng. 

3. Thiện lành

Thiện lành chính là sự đồng cảm và biết tôn trọng đối với tất cả các sinh mệnh. Đây là đức tính dễ nhận thấy nhất ở con người, chúng ta có thể cảm nhận được thông qua những gì biểu đạt ra bên ngoài như hình dáng, nét mặt, giọng nói...

Người thiện lành coi trọng nhân phẩm và lương thiện hơn danh lợi. Nó chính là cơ sở để hình thành nên lòng vị tha, sự chấp nhận và yêu thương. Khi sống thiện lành, người ta sẽ không vì những lợi ích mà đánh mất đi lương tâm hay làm điều ác, điều xấu. Đây chính là đức tính căn bản làm nên bản ngã tốt nơi con người vậy.

4. Sống vì mọi người

Con người sống hợp thành cộng đồng xã hội, vì vậy mà một người tốt thì không thể thiếu đức tính quan tâm đến mọi người. Một người tốt thì không thể sống ích kỷ, chỉ biết đến bản thân mà quay lưng lại với nổi khổ đau và bất hạnh của đồng loại. Người sống vì mọi người thì sẽ biết đồng cảm và giúp đỡ những người xung quanh. Đức tính này chính là nguyên lý sống cơ bản của nhân loại. Đây là bản chất xã hội tự nhiên, tồn tại bên trong mỗi người, vì rằng ai cũng muốn được quan tâm và cần phải quan tâm đến người khác. Nhờ đức tính này mà loài người có được sự đoàn kết, từ đó tạo nên các chuẩn mực đạo đức tốt đẹp cho xã hội. Cũng bởi sự quan tâm tới nhau, mà con người sống ngày một có trách nhiệm hơn, làm việc năng suất hơn, tạo ra nhiều hàng hóa và sản phẩm có chất lượng hơn. 

Khi chúng ta biết cho đi, chia sẻ và giúp đỡ, chúng ta sẽ luôn được đền đáp lại bằng hạnh phúc. Cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên có ý nghĩa hơn và ngập tràn yêu thương. Nhân cách này cũng chính là luôn luôn biết giúp đỡ mọi người, luôn cho đi nhưng không phải để nhận lại. Nó còn thể hiện ra là luôn suy nghĩ cho người khác và luôn biết lắng nghe. Để làm được như vậy, chúng ta phải biết đặt mình vào vị trí của người khác trong mọi hoàn cảnh và thời điểm.
Tâm lý học ngày nay cho rằng trong mỗi con người đều có hai cá tính. Cá tính thứ nhất có sẵn từ lúc chào đời, là yếu tố nòng cốt cho cái khí chất và cái trí tuệ của chúng ta. Giống như Khổng Tử(5) từng nói: “Nhân chi sơ, tính bản thiện” vậy. Cái cá tính thứ nhì được gọi là cá tính tập thành, bởi nó được hình thành bởi những tác động của cuộc sống bên ngoài.
Chúng ta hãy cùng xem xét những cá tính ấy là gì.  
Con người thường được chia làm bốn loại Khí chất, gồm:
+ Khí chất nóng nảy (khí chất mạnh).
Người khí chất nóng nảy có khả năng hưng phấn cao và nhịp độ thần kinh nhanh. Trạng thái tình cảm thay đổi thất thường, vui buồn bất chợt, khả năng cân bằng cảm xúc kém. Họ thường nói to, nói nhiều, cử chỉ hành động mạnh mẽ. Cảm xúc dễ bộc lộ ra bên ngoài, cho nên dễ nổi nóng và gây xung đột. Tuy nhiên họ nhận thức sự việc nhanh, giải quyết vấn đề chóng vánh. Họ yêu ghét rõ ràng, thường để cho tình cảm lấn át lý trí. Những người có khí chất nóng nảy có khả năng thích nghi với môi trường cao. Vì họ dễ thay đổi thói quen và quan điểm bản thân, cho nên nhanh chóng ham mê công việc, nhưng cũng dễ chán nản. Họ cũng có thể là người kiên trì, nhưng tình trạng đó không được duy trì liên tục.
Ưu điểm của loại người này là nhiệt tình, thẳng thắn bộc trực, quyết đoán, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm. Họ thường là những người nổi bật trong đám đông bởi tính cách mạnh mẽ, dễ truyền cảm hứng và lôi cuốn người khác vào công việc. Bên cạnh đó, nhược điểm của họ cũng không phải là ít. Đó là tính vội vàng hấp tấp, nóng nẩy, khó kìm chế bản thân, bảo thủ, hiếu thắng và kém kiên trì. Khi gặp phải tình huống khó khăn thì hay chán nản.
+ Khí chất linh hoạt (khí chất nhiệt tình).
Người khí chất linh hoạt có nhịp độ thần kinh mạnh, mềm dẻo, tính cân bằng giữa ức chế và hưng phấn cao. Họ nói nhiều và nhanh, tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát. Họ luôn là người vui vẻ, dễ gần, vì vậy mà thường có mối quan hệ rộng, tuy nhiên không sâu sắc và bền vững cho lắm.
Ưu điểm của họ là tư duy và nhận thức nhanh, có lắm sáng kiến trong công việc. Có khả năng thích nghi với mọi môi trường và hoàn cảnh. Đây là mẫu người rất linh hoạt trong cuộc sống chúng ta. Họ rất lạc quan yêu đời, nhanh nhẹn, có tài ngoại giao, có khả năng tổ chức. Tuy nhiên họ cũng là người thiếu sâu sắc, thiếu kiên định, làm việc tùy theo cảm hứng. Trong cuộc sống thường vội vàng hấp tấp, làm việc nhanh nhưng kém chất lượng, lại là người hay chủ quan.
+ Khí chất bình thản (khí chất trầm tĩnh).
Những người này có cường độ thần kinh hưng phấn và ức chế cân bằng nhưng ở mức độ tương đối (không mạnh như khí chất nóng nảy và linh hoạt). Họ là kiểu người ít nói, hành vi chậm chạp, ít bộc lộ cảm xúc ra bên ngoài. Nhìn bề ngoài, họ là người hơi khô khan, cho nên khó tiếp xúc và làm quen. Vì vậy mà mối quan hệ của họ hạn hẹp hơn hai kiểu người trên, và cũng thích nghi với môi trường sống chậm hơn.
Phản ứng của mẫu người này thường chậm nhưng lại chắc, vì họ bình tĩnh, điềm đạm, kiên trì và bền bỉ trong hành động. Họ có những tham vọng không thay đổi, đạt được mục đích bằng cách cần mẫn làm việc một cách kiên trì và có kế hoạch. Người có kiểu khí chất điềm tĩnh thường mất nhiều thời gian để thay đổi công việc cũng như thói quen. Sức ỳ của mẫu người này rất lớn, vì thế mà thiếu tình mềm dẻo. Họ thường thích những công việc cố định mà không muốn thay đổi hình thức hoạt động.
Người khí chất bình thản ngăn nắp, chu đáo, có trách nhiệm trong công việc. Tình cảm của họ sâu sắc và tế nhị, đặc biệt họ luôn giữ được thái độ bình tĩnh trong giao tiếp. Họ làm việc có nguyên tắc, biết cân nhắc trước khi hành động, làm chủ được tình huống và vô cùng kiên định. Khả năng tiếp thu cái mới của người có khí chất bình thản thường chậm và cứng nhắc, thậm chí là máy móc.

+ Khí chất ưu tư (khí chất yếu).

     Người khí chất ưu tư có cường độ thần kinh yếu, khả năng hưng phấn và ức chế đều yếu và không linh hoạt. Họ là những người kín đáo, tiếng nói nhẹ nhàng, yếu ớt. Hành động thường thiếu tính bạo dạn, rụt rè và nhút nhát. Khả năng nhận thức chậm nhưng chắc. Có xu hướng không thích đám đông, không thích ồn ào. Đời sống thiên về nội tâm, ít giao thiệp rộng, nhưng họ lại là người rất chu đáo và cẩn thận trong các mối quan hệ. Có thể nói, họ là những người dịu dàng, tế nhị, nhạy cảm với môi trường xung quanh. Họ có suy nghĩ sâu sắc, trí tưởng tượng phong phú, tình cảm chung thủy. Trong công việc, họ có ý thức cao và khá kiên trì. Họ cũng là người rụt rè, đa sầu đa cảm và trầm lặng. Vì thế mà trong cuộc sống họ dễ bị tổn thương, dễ bị ốm đau vì thể chất yếu.
Để nắm bắt được những vấn đề trên, chúng ta cần phải hiểu rõ:
- Khí chất: Là đặc điểm của cá nhân về mặt cường độ, nhịp độ hoạt động tâm lý.
- Khí: Là hơi thở, sức mạnh thể chất hay tinh thần.
- Chất: Là phẩm chất.
Trong một con người luôn tồn tại bốn loại khí chất nói trên. Các trạng thái đó không ổn định, khi thì ở dạng khí chất này, lúc lại là thứ kia. Tuy nhiên sẽ có một khí chất nổi bật nhất, và chính nó làm nên tính đặc trưng của chúng ta. Lưu ý là khí chất khác với bản tính, khí chất không giúp phân biệt tốt xấu hay thiện ác. Khí chất nổi bật của một người gần như là thuộc tính không thể thay đổi. Còn tính cách của một người thì có thể thay đổi hoặc rèn luyện. Tính cách chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự tác động của môi trường sống bên ngoài.
Muôn việc trên đời này đều ở tâm mà ra. Tâm sáng thì việc sáng, tâm tối thì việc tối. Tâm thiện thì việc thiện, tâm ác thì việc ác. Tâm lạc quan thì việc hanh thông sáng sủa, tâm bi quan thì việc chậm trễ và khó hanh thông. Tâm vui vẻ thì việc cũng vui vẻ, tâm bi lụy thì việc cũng buồn phiền. Cho nên tu dưỡng và rèn luyện cái tâm, cũng chính là tu dưỡng và rèn luyện ở nơi công việc. Tâm là nền tảng của vấn đề, nền tảng có vững thì những thứ xây trên đó mới được bền lâu. Nền tảng không vững (tức là không có tâm) thì những thứ xây trên đó cũng chỉ là giả trá như lâu đài cát, nó sẽ nhanh chóng sụp đổ vì không chịu đựng được sự thử thách của thời gian. Vậy thì làm sao để có tâm bền vững? Xin được trả lời ngay: Đó chính là tâm thiện. 

Cho nên, Tâm Đạo chính là đạo của cái tâm, của gốc rễ vấn đề vậy. 

Bài đăng phổ biến từ blog này

TÂM ĐẠO (Chương III)

TÂM ĐẠO (Chương II)

TÂM ĐẠO (Chương VII)